Review Tham Quan Thành cổ Luy Lâu Bắc Ninh ở đâu ,giờ mở cửa 2022

tai xuong 74

Thành cổ Luy Lâu ở đâu ?

Thành cổ Luy Lâu xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Những công dụng nghiên cứu đã đã cho chúng ta biết Luy Lâu là khu di tích lịch sử khảo cổ học thời Bắc thuộc có mô hình rộng lớn nhất với con số lượng di tích lịch sử đa dạng chủng loại nhất ở Việt Nam ngày này.Thành Luy Lâu tọa lạc phương pháp TP Hà Nội chừng 30km,

Vị trí: Thành Luy Lâu, Trí Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh

Giờ mở cửa : 09:00–21:00

Thành cổ Luy Lâu Bắc Ninh

Khám phá Thành cổ Luy Lâu Bắc Ninh

Thành cổ Luy Lâu, từng là một thành cổ nhiều người biết đến phồn hoa, đô hội của xứ Giao Chỉ xưa, là giữa trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa cổ truyền – tôn giáo đầu tiên và từng là niềm tự hào của nền văn minh đồng bằng trung du sông Hồng các năm đầu Công nguyên.

Nếu Cổ Loa (Đông Anh – TP Hà Nội) là TP gần nhất trong lịch sử Việt Nam, thì Luy Lâu đã đứng hàng thứ hai. Nhưng có lẽ rằng không còn thành thị cổ nào ở Việt Nam thời Phong Kiến có thêm sự nâng tầm phát triển thăng trầm như Thành Luy Lâu.  Theo điều tra của cẩm nang du lịch Bắc Ninh, thành Cổ Luy Lâu còn sống sót tên thường gọi khác là Siêu Loại, Lũng Khê, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Ngôi thành nối sát với thời kỳ giặc phương Bắc xâm lược Việt Nam từ Tây Hán…nhà Đường. Chúng thành lập Luy Lâu thành một giữa trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế, tôn giáo…nhằm mục tiêu xâm lược thôn tính dài lâu, áp bức bóc lột đồng hoá nhân dân ta, dân tộc ta.

Cổng vào khu di tích thành cổ Luy Lâu
Cổng vào khu di tích lịch sử thành cổ Luy Lâu

Song chính địa chỉ đây đã ghi dấu các chiến công chói ngời của nhân dân ta chống giặc phương Bắc từnhững năm đầu công nguyên (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã phá vỡ ách thống trị của quân Nam Hán).
Thành Luy Lâu có cấu tạo dạng hình học chữ nhật mô hình lớn với luỹ, hào, cửa, vọng gác…với diện tích khoảng (3000mx 200m) tọa lạc hơi chếch theo phía Tây Nam.

Phía đông thành tọa lạc trọn trong thôn Lũng Khê. Phía Tây và 1 phần phía Bắc thành giáp xã Trí Quả, Phía Nam giáp xã Thanh Khương, phía Tây và Nam thành có dòng sông Dâu lại là một ngoại hào bỗng nhiên bảo phủ toà Thành, cùng theo đó là đường giao thông thuỷ rất quan trọng. Trước đây, 4 góc thành có 4 trạm gác gọi là ‘ Tứ trấn”, ở đoạn giữa phần quay ra sông Dâu có một ngôi nàh bé dại gọi là Vọng Giang Lâu với lối phong cách xây dựng thời Lê Mạt.

Cầu đá vào đền thờ Sĩ Nhiếp
Cầu đá vào đền thờ Sĩ Nhiếp

Để điều tra các đoạn tường thành được đắp qua các thời buổi, các nhà khảo cổ học đã cắt một đoạn thành còn khá nguyên vẹn ở giữa góc Tây Nam dài hơn 13m, rộng 2m, sâu 6m. đã đã cho chúng ta biết: từ mặt xuống sâu 1,5 mét chỉ gặp đồ gốm sứ có niên đại Lý – Trần, ở độ sâu 1,5 xuống 4,5 mét cảm thấy nhiều di vật phong cách xây dựng như đầu ngói ống có bày diễn trang trí hoa văn, gạch thành lập có bày diễn trang trí văn chám đơn, chám lồng có niên đại từ thời Lục Triều – Tuỳ Đường.

Tới trường sau cùng tìm cảm thấy nhiều mảnh nồi, vò bát, xương động thực vật và than tro, các di vật mang đặc thù dòng sản phẩm của thời Đông Hán muộn, thời kỳ mà Sỹ Nhiếp xuất bây giờ đây.Tại các hố khai quật, các nhà khảo cổ học đã chiếm được con số lớn hiện vật là chất liệu phong cách xây dựng, đồ sử dụng sinh hoạt có niên đại từ thế kỷ 1 trước công nguyên tới thế kỷ 14 sau công nguyên.

Những vật dân dụng (đồ gốm, dấu tích của phòng bếp) và chất liệu thành lập (gạch, ngói, đầu ngói ống…) chứng tỏ tiến độ cư trú liên tiếp, dài lâu của người dân ở địa chỉ này và định vị chính là một giữa trung tâm an cư có mô hình lớn.Tuy nhiên thành Luy Lâu có từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, đã qua nhiều thăng trầm, chịu sự hủy hoại của thiên nhiên, con người, nhưng vẫn còn lưu giữ được không ít dấu tích cổ.

Ông Nguyễn Duy Nhất, Giám đốc Ban chủ tịch di tích lịch sử tỉnh Bắc Ninh cho thấy: Thành Luy Lâu hiện còn không thay đổi được 1 nửa thành cũ với diện tích 132.258m2 ở phía Tây Nam.Phía Đông đã biến thành đất nền thổ cư của làng Lũng Khê. Phía bên trong thành có chùa Phi Tướng, chùa Bình. Chùa thờ tượng Sỹ Nhiếp có từ thời Lê Nguyễn.Bờ thành bằng đất vẫn còn đang cao khoảng 1-2m, mặt thành rộng 1,5 mét.

Trong vị trí thành còn đền, mộ, chùa, tứ trấn (4 gò đất nhô cao lên nếu như với mặt thành). Đặc thù, di tích lịch sử cổ vẫn còn sống sót từ thế kỷ thời điểm đầu tuần đây là chiếc cầu đá, lối dẫn vào đền thờ Sỹ Nhiếp. Đấy là khu du lịch Bắc Ninh được không ít khách tham quan về tham quan và thắp nhang.

Đền thờ Sĩ Nhiếp tại di tích thành cổ Luy Lâu
Đền thờ Sĩ Nhiếp tại di tích lịch sử thành cổ Luy Lâu

Đặc thù nhất tọa lạc trong vị trí thành cổ Luy Lâu (xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), ngày này cầu đá của đền Lũng Khê là 1 trong những các cây cầu đá cổ xinh tuyệt đối hoàn hảo nhất xứ Kinh Bắc còn được lưu giữ tới lúc này. Cầu bắc qua một ao nước phía đằng trước đền và là lối để lấn sân vào vị trí đền chính, được khởi dựng từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 16-18), trùng tu vào khoảng thời gian 1843, thời của Thiệu Trị của nhà Nguyễn. Cầu làm bằng đá xanh nguyên khối gồm 7 nhịp với chiều dài 10m38, bề rộng mặt cầu 1m67, chiều dài bình quân mỗi nhịp là 1m40.

Mặt cầu được lát bằng 20 tấm đá, mỗi nhịp có ba tấm lát mặt, tấm giữa phẳng, hai tấm ở kề bên tạo gờ nổi hai bên rìa tạo dáng vẻ thành cầu. Cầu có 8 chiếc dầm kích thước dài bình quân 2m25, mỗi dầm được đỡ bằng ba trụ, cục bộ là 24 trụ. Hai bên đầu dầm cầu bày diễn trang trí hình vân mây xoắn. Phía ở phía bên trên hai đầu dầm cầu bày diễn trang trí các loài vật, hoa lá phương pháp điệu như con dơi, hổ phù, con cá chép, lá sen, lá đề, hoa chanh phương pháp điệu…

Một di vật khai quật được ở thành cổ Luy Lâu
Một di vật khai quật được ở thành cổ Luy Lâu

Hiện nay, dòng sông cổ đang ngày bị thu hẹp lại do sinh hoạt của không ít cư dân. Tường thành thì luôn đứng trước rủi ro tiềm ẩn bị con người xâm lấn, hủy hoại…

Thành Luy Lâu cần được được góp vốn đầu tư, phục dựng sớm để lưu giữ kinh phí lịch sử còn sót lại với thời hạn, để dòng đời sau này hiểu về thuở nào kỳ lịch sử thăng trầm của giang sơn.Với các kinh phí lịch sử lớn lớn đó, thành Luy Lâu đã sớm được Chính phủ góp vốn đầu tư, nghiên cứu, đảm bảo và được đứng thứ hạng từ thời điểm ngày 13/1/1964 theo ra quyết định số 29/VHQĐ công nhận di tích lịch sử

Hiện nay, dòng sông cổ đang ngày bị thu hẹp lại do sinh hoạt của không ít cư dân. Tường thành thì luôn đứng trước rủi ro tiềm ẩn bị con người xâm lấn, hủy hoại… Thành Luy Lâu cần được được góp vốn đầu tư, phục dựng sớm để lưu giữ kinh phí lịch sử còn sót lại với thời hạn, để dòng đời sau này hiểu về thuở nào kỳ lịch sử thăng trầm của giang sơn.ịch sử cấp đất nước.

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Thành cổ Luy Lâu Bắc Ninh

Review Tham Quan Thành cổ Bắc Ninh nét đẹp ngàn năm ở đâu, kiến trúc, lịch sử 2022

thanh co bac ninh nemtv 1 696x371 1

Thành Cổ Bắc Ninh là 1 trong các các chứng tích, biểu tượng của thời kỳ phong kiến Việt Nam. Du lịch Bắc Ninh, ngoài các mái đình cong cong, cây đa giếng nước còn sinh tồn các lũy thành bao đời vẫn sừng sững với biến cố thời hạn. Thành cổ Bắc Ninh được thẩm định và đánh giá là 1 trong các các tòa thành đẹp nhất xứ Bắc Kỳ.

Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh ở đâu ?

Thành cổ Bắc Ninh là Pháo đài từ thế kỷ 19, đang đáp ứng cho mục tiêu quân sự, cho hành khách du lịch hào nước và cây đa đình đám bên ngoài.Phương pháp giữa trung tâm Thành Phố Hà Nội khoảng 30km, Thành cổ Bắc Ninh là một địa chỉ tham quan đình đám ở Tp. Bắc Ninh.

Thành cổ Bắc Ninh, dự án công trình kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ quân sự tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, được thành lập từ năm 1805 thời Vua Gia Long, triều Nguyễn, trên địa bàn các làng Ðỗ Xá, huyện Võ Giàng, Hòa Ðình (Tiên Du) và làng Yên Xá, huyện Yên Phong (nay thuộc phường Vệ An, TP.Bắc Ninh). Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước đây ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng.

Địa chỉ: P.Vệ An, Bắc Ninh

Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh

Phương pháp di chuyển tới Thành cổ Bắc Ninh

Từ thành phố Thành Phố Hà Nội tới Thành cổ Bắc Ninh bạn đi mất khoảng 60 phút mô tô và 40 phút ôtô, lối đi rất thuận tiện.

Tuyến đường đầu tiên

Từ thành phố Thành Phố Hà Nội, bạn di chuyển theo phía cầu Long Biên hoặc cầu Chương Dương. Nếu là cầu Long Biên thì bạn chạy xe thẳng theo đường Ngọc Lâm, tới đèn xanh đèn đỏ thì rẽ trái.

Còn nếu bạn đi theo phía cầu Chương Dương thì đi thẳng theo phía đường Nguyễn Văn Cừ. Tới đèn đỏ thì liên tiếp đi thẳng tới cầu vượt đoạn giao giữa đại lộ 5 và đường Nguyễn Văn Cừ thì trải qua gầm cầu.

Chạy dọc khu thành phố Việt Hưng rồi tiến lên trên cầu Đuống, đi sang đến địa bàn Yên Viên thì bạn đi xe theo phía đại lộ 1A khoảng 13km nữa sẽ đến thị xã Từ Sơn của tỉnh Bắc Ninh.

Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh1

Từ điểm đó, vẫn theo phía đại lộ 1A, bạn đi 12km nữa là đến thành phố Bắc Ninh. Sau đó bạn hỏi đường tới Thành cổ. Này là con phố khá ngắn, dễ tìm, tuy nhiên từ đoạn cầu Đuống đến thị xã Từ Sơn có không ít chặng đường ổ gà khó đi nên bạn lưu ý gia tốc, chạy chậm để không gây tai nạn nhé!

Tuyến đường thứ hai

Này là chặng đường rất ngắn, chỉ tầm 25km từ điểm cầu Thanh Trì. Bạn đi xe thẳng theo phía đại lộ 1, trải qua khoảng 5 đoạn cầu vượt  nhìn cảm nhận bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh thì rẽ trái, ngang cầu là địa bàn thành phố Bắc Ninh.

Này là con phố cao tốc dễ đi, dễ tìm, bạn chỉ mất khoảng 30 phút để đi từ đầu trên cầu Thanh Trì đến đây.

Trên lối đi, bạn nhớ chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ an toàn và tin cậy giao thông để hạn chế bị thổi phạt và gặp bất lợi cho tiến độ di chuyển nhé!

Kiến trúc Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh

Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh2

Theo GS.TS. Ðỗ Văn Ninh, người sáng tác bộ sách Thành cổ Việt Nam, thành Bắc Ninh là thành cổ đầu tiên của Việt Nam được thành lập theo đồ án hình lục giác (6 cạnh). Về kiến trúc, thành Bắc Ninh là 1 trong các bốn tòa thành đẹp nhất vùng Bắc Kỳ thời bấy giờ. Theo hệ thống kê cổ Việt Nam, thì chu vi thành dài 532 trượng, 3 thước, 2 tấc. Tường gạch cao 9 thước.

Xung quanh có hào rộng 4 trượng, sâu 5 thước. Thành có 4 cổng, mỗi cổng đều phải sở hữu cầu trải qua hào. Nhiều năm qua, người và xe cộ ra vào thành cổ chỉ sử dụng cổng tiền ở phía Đông, cổng hậu ở phía Tây, tên hai cổng này cũng được đặt cho hai phố: phố Cổng Tiền thuộc phường Tiền An, phố Cổng Hậu thuộc phường Vệ An.

Trong thành có thu xếp các bộ phận gồm Doanh trấn thủ, Ðài bác vọng, Kho thuốc súng, Nhà công đồng. Ở sáu góc thành đều phải sở hữu pháo đài nhô ra ngoài, theo mẫu mã nổi bật vô-băng (vauban). Này là một thành lớn sau thành Thành Phố Hà Nội, minh chứng sự gây được sự chú ý nổi trội của triều Nguyễn nếu như với sức ảnh hưởng mọi mặt của đất Bắc Ninh.

Lịch sử Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh

Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ cũ tới xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du.
Thuở đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho đến năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và sau cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du).

Cửa Nam thành cổ Bắc Ninh
Cửa Nam thành cổ Bắc Ninh

Này là ngôi Thành cổ đầu tiên của Việt Nam được thành lập theo đồ án hình lục giác. Về kiến trúc, Thành Bắc Ninh là 1 trong các bốn tòa thành đẹp nhất vùng Bắc Kỳ thời bấy giờ. Thành có diện tích 545.000m2, tường cao 9 thước đắp bằng đất đá, sau thay bằng gạch đá, chu vi dài hơn 532 trượng, chung quanh có hào nước sâu bảo phủ.

Khám phá Thành cổ Thành cổ Bắc Ninh

Xung quanh có hào rộng 4 trượng sâu 5 thước. Thành có 4 cửa mỗi cửa đều phải sở hữu cầu trải qua hào. Cổng Tiền ở phía Nam, cổng Hậu ở phía Bắc, cổng Đông ở phía bên tả và cổng Tây ở phía bên hữu. Mỗi cổng đều phải sở hữu xây cầu trải qua hào ngoài. Sách “Bắc Ninh tỉnh địa dư” ghi: “Ba cổng Tiền, Hậu, Hữu ở phía bên trong được xây năm Ất Dậu (1805), phần bên trên, bên dưới của rất nhiều cổng đó y như các tường kề bên làm bằng đất, gạch, đá.

Phía trong cổng có không ít nhà lợp ngói, các cổng bên trái ở phía bên trong được xây năm Giáp Tuất (1814) làm bằng đất, phía phía bên trên có Cầu ba gian lợp ngói. Cổng Tiền là cổng chính của thành nên được thành lập cao lớn nhất. Qua cổng Tiền là tới cột cờ xây gạch, chiều cao 17m, gần bằng cột cờ thành Thành Phố Hà Nội. Cổng thành mở theo mùa. Ngày xuân lính mặc quần áo đỏ, đeo gươm. Mùa nắng mặc quần áo vàng, đeo cung. Ngày thu mặc quần áo trắng vác súng. Mùa Đông mặc quần áo đen, vác giáo.Ở sáu góc thành đều phải sở hữu pháo đài nhô ra ngoài, theo mẫu mã nổi bật Vauban.

Thành cổ Bắc Ninh nhìn từ bên trong
Thành cổ Bắc Ninh nhìn từ nằm trong

Đây cụ thể là một thành lớn sau thành Thành Phố Hà Nội, minh chứng sự gây được sự chú ý nhiều của triều Nguyễn nếu như với sức ảnh hưởng mọi mặt của đất Bắc Ninh. Trong Thành có thu xếp các bộ phận gồm Doanh trấn thủ, Đài bác vọng, kho thuốc súng, nhà Công đồng.

Bao quanh thành Bắc Ninh, nhà Nguyễn còn cho xây nhiều dự án công trình như: Chuyển Văn Miếu từ Thị Cầu về xây ở đỉnh núi Phúc Sơn, tu bổ Đàn Khải Thánh; năm Minh Mệnh thứ 14 xây Đàn Xã Tắc ở Lỗi Đĩnh, Đàn Tiên Nông ở Y Na; năm Minh Mệnh thứ 18 dựng trường học ở Đỗ Xá, năm Minh Mệnh thứ 21 lập miếu Hội Đồng ở Lỗi Đĩnh; năm Thiệu Trị đầu tiên xây miếu Thành Hoàng cũng ở Lỗi Đĩnh.


Thành Bắc Ninh là dự án công trình đồ sộ và kiên cố, cùng theo đó là giữa trung tâm cỗ máy hành chính quản lý của nhà Nguyễn ở tỉnh Bắc Ninh. Tại chỗ này đã giới thiệu nhiều event lịch sử quan trọng của tổ quốc và của tỉnh. Thời nhà Nguyễn, Thành Bắc Ninh là giữa trung tâm cỗ máy quản lý hành chính hai tỉnh Bắc Ninh -Thái Nguyên.

Đóng ở thành Bắc Ninh, quan quân nhà Nguyễn thường xuyên phải đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên chống lại nhà Nguyễn, trong số đó có không ít cuộc bao vây thành Bắc Ninh của nghĩa quân Cai Vàng vào nửa thời điểm cuối thế kỷ XIX.Trước khi Pháp chiếm, tỉnh lỵ của Bắc Ninh mới chỉ là một dãy phố trải chạy dọc theo tuyến đường trạm đá khoảng 1500 m, chủ đạo là hơn 1500 người Hoa trú ngụ, còn quan lại và chính quyền sở tại đóng trong thành.

Khu thành cổ có vị trí chiến lược quan trọng trong công cuộc cai trị thời Phong kiến
Khu thành cổ có nơi đặt kế hoạch quan trọng trong công cuộc quản lý thời Phong kiến

Tháng 3 năm 1864, trước sức tiến vô tư tàu chiến và đại bác của thực dân Pháp, quan quân nhà Nguyễn trong thành Bắc Ninh đã phải đầu hàng. Tỉnh Bắc Ninh bị thực dân Pháp chiếm đóng và quản lý từ thời hạn lịch sử đó. Thời thuộc Pháp, cam kết rõ nơi đặt sức ảnh hưởng của tòa Thành này, ngày 16-5-1925 toàn quyền Đông Dương đã ký kết ra quyết định xếp hạng thứ hạng di tích lịch sử Thành Bắc Ninh là dự án công trình kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ tiêu biểu – Theo Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Văn Ninh, người sáng tác sách “Thành cổ Việt Nam”.

Thời thuộc Pháp, thị xã Bắc Ninh là cứ điểm trọng điểm về mặt quân sự ở Bắc Kỳ. Khu vực nội thành bị giải tỏa để đưa chỗ đóng quân. Những đồi cao ở Đáp Cầu, Thị Cầu biến thành pháo đài kiên cố. Quân Pháp triệu tập ở đây khá đông, thường xuyên khoảng 2.000 tên. Lính lê dương, pháo thủ, hậu cần đóng tại Đáp Cầu, Thị Cầu. Lính khố đỏ đóng trong thành Bắc Ninh, lính khố xanh đóng ở đầu phố Ninh Xá.

Song song với sự củng cố địa thế căn cứ quân sự, thực dân Pháp còn cho thành lập nhiều dự án công trình án dân sự và kinh tế như Sở Thương Chính, Công Chính, Địa chính, Bưu điện, Ngân hàng, Sở Canh nông, Trường học… Bộ đường phố xá, chợ bến, nhà cửa, dinh thự đã có nhiều nhiều nâng cấp. Hoạt động kinh tế kinh doanh của Bắc Ninh đã khá sống động, u ám. Tới năm 1938 Bắc Ninh biến thành thành phố thứ năm của Bắc Kỳ đứng sau Thành Phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, và Thành Phố Hải Dương.

Thành cổ Bắc Ninh nhìn từ trên cao
Thành cổ Bắc Ninh nhìn từ trên cao

Thành Cổ Bắc Ninh cũng từng là địa điểm giới thiệu nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân Bắc Ninh trong trào lưu kháng chiến chống Pháp.Thành cổ được UBND tỉnh Hà Bắc xếp hạng thứ hạng di tích lịch sử lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ tiêu biểu theo Quy định số 144/QĐ-UB ngày 15-3-1980. Ngày 24-10-1981, UBND tỉnh Hà Bắc có Quy định số 574/QĐ-UB về việc đảm bảo di tích lịch sử Thành cổ Bắc Ninh.

Theo Quy định này vị trí nội thành và dãy hào bao quanh phía bên ngoài là bất khả xâm phạm. Vùng bao quanh là tường thành và hồ thành chưa được tùy tiện san lấp, đào bới làm tổn hại tới di tích lịch sử. UBND tỉnh Hà Bắc giao việc đảm bảo Thành cổ Bắc Ninh cho UBND thị xã Bắc Ninh (nay là thành phố Bắc Ninh) tiếp nhận.Ngày nay, thành cổ Bắc Ninh là điểm du lịch mềm mại đươc nhiều du khách gần xa về thăm. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, bạn cũng luôn có thể phối hợp tham quan chùa chiền với mày mò ngôi thành cổ kinh đẹp nhất Bắc Kỳ.

Những địa chỉ ẩm thực quanh Thành cổ Bắc Ninh

Bánh bao chiên

Quán chỉ mở cửa vào buổi chiều, nổi trội do bánh ngon nên luôn hết từ sớm. Một lần thưởng thức thì khó rất có khả năng quên cái xúc cảm giòn tan ở vỏ ngoài bánh, nhân nằm trong đậm đà bao gồm thịt nạc, tiêu, hành, một quả trứng cút toàn bộ hòa quyện cùng nhau.

Song song với đây chính là nước chấm rau củ chua chua ngọt ngọt ( đu đủ, su hào,… tùy mỗi mùa ) làm dậy vị của chiếc bánh.

Các địa điểm ăn uống quanh Thành cổ Bắc Ninh

Nơi: Cổng Ô, đường Ngô Gia Tự, phường Ninh Xá, Bắc Ninh.

Bánh cá

Đã nói tới bánh cá thì không hề không nói tới cái vị đậm đà dậy mùi cá cùng với các gia vị. Song song với đây chính là mùi vị cay cay nồng nồng của ớt, nhưng vẫn không làm mất đi đi mùi vị hơi ”tanh” của cá.

Đồ ăn sẽ nổi trội ngon hơn khi được ăn nóng và lấn sâu vào ngày đông.

Các địa điểm ăn uống quanh Thành cổ Bắc Ninh

Nơi: Nhà hàng Korea, 23 Ngọc Hân Công Chúa, Thành phố Bắc Ninh.

Bánh cuốn thịt nướng

Với vỏ bánh cuốn dai dai dẻo dẻo ăn kèm với thịt nướng thơm lừng. Tính chất, không hề thiếu một chút ít hành tím phi thơm giòn rụm, cùng với bát nước mắm mặn ngọt hòa quyện lại thật tuyệt đối hoàn hảo.

Các địa điểm ăn uống quanh Thành cổ Bắc Ninh

Nơi: có nhiều điểm bán trong Thành phố Bắc Ninh.

Bánh mì nướng

Bánh mì được nước bằng phòng bếp than, phủ một lớp bơ vàng óng tạo ra dư vị khó quên cho các ai thưởng thức món này.

Các địa điểm ăn uống quanh Thành cổ Bắc Ninh

Nơi: chợ Nhớn, Thành phố Bắc Ninh.

Vào dịp thời điểm cuối tuần, hãy tạm xa cái ồn ào của Thủ đô. Hãy về tham quan Thành cổ Bắc Ninh và thưởng thức các đồ ăn địa điểm đây chắc như đinh đóng cột sẽ để lại cho bạn các kỉ niệm đáng nhớ.

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Thành cổ Bắc Ninh nét đẹp ngàn năm

Review Tham Quan Văn miếu Bắc Ninh biểu tượng của đất học ở đâu,kiến trúc 2022

van mieu bac ninh

Văn miếu Bắc Ninh ở đâu ?

Vùng đất Bắc Ninh đình đám xứ Kinh Bắc bởi các làn điệu quan họ lắng đọng và ngọt ngào sâu lắng, không dừng lại ở đó, Bắc Ninh còn là 1 trong những các vùng đất học. Minh chứng của sự đỗ đạt chính là văn miếu Bắc Ninh

Tọa lạc giữa Thành phố Bắc Ninh (phương pháp Thủ đô thành phố Hà Nội khoảng 30 km về hướng Đông Bắc)Văn Miếu Bắc Ninh là một trong các 6 văn miếu ở Việt Nam, có trị giá lịch sử, văn hóa truyền thống cổ truyền, phản ánh truyến thống khoa bảng của vùng quê Kinh Bắc qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước thuộc các triều đại phong kiến..

Ở đây thờ Khổng tử, và 12 bia “Kim bảng lưu phương” lưu danh 677 vị đại khoa quê hương Kinh Bắc. Song song với thành phố Hà Nội và Huế, Bắc Ninh là bản địa thứ ba thành lập Văn Miếu có kinh điển mô hình.

Địa điểm: Đại Phúc, Bắc Ninh

Giờ mở cửa :08:00–11:30, 13:30–16:30

Văn miếu Bắc Ninh

Kiến trúc Văn miếu Bắc Ninh

Tổng thể công trình xây dựng gồm: Tiền Tế (5 gian), Hậu Đường (5 gian), hai bên hồi Hậu Đường là Bi Đình (3 gian 2 dĩ), hai bên hồi Tiền Đường là Cộng đồng trị sự và Tạo Soạn; hai bên sân trước Tiền Tế là nhà Tả Vu, Hữu Vu.

– Bái đường là điểm đặt ban thờ và hai tấm bia đá có tên “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” dựng năm Duy Tân 6 (1912) có nội dung ghi chép lại việc dịch chuyển Văn Miếu từ núi Thị Cầu về núi Phúc Đức ngày nay

– Tiền tế là địa chỉ hành lễ trước đó, hiện có 2 tấm bia “Phụ ký” (ghi chép các vị Tiến sĩ chưa được khắc trên Kim bảng lưu phương) và “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến” (dựng năm 1896, nội dung văn bia đề cập quan viên tỉnh Bắc Ninh cung tiến ruộng cho Văn miếu để triển khai tự điền) được đặt ở đầu hồi nhà. Hậu đường tọa lạc phía đằng sau Tiền tế, phương pháp nhau bằng một khoảng sân rộng 2m. Chính là địa chỉ thờ Khổng Tử, Tứ phối và các bậc Tiên hiền.

– Hai bên Tiền tế là dãy Tả vu, Hữu vu là địa chỉ thờ tự các Cử nhân, Tú tài của đất Kinh Bắc.

– Toàn bộ công trình xây dựng có kiến trúc chồng giường giá chiêng, hệ thống khung gỗ lim được bào trơn đóng bén.

Ở đây, thực dân Pháp còn cho thành lập lô cốt, tháp canh để bao quát các vùng ở bên cạnh.

Văn miếu Bắc Ninh1

Khám Phá Lịch sử Văn miếu Bắc Ninh

Sau hoà bình lập lại, Văn miếu được nhân dân bản địa góp công sức tiền của tôn tạo lại nhằm mục đích phát huy truyền thống cổ truyền giáo dục khoa bảng của quê hương. Với các trị giá lớn lao nhiều mặt của di tích lịch sử, năm 1988 Văn Miếu Bắc Ninh đã được đứng thứ hạng là Di tích đất nước.

Trong lịch sử thi tuyển Hán học dưới chính sách phong kiến nối dài 845 năm (1075 – 1919) Việt Nam có 18 khoa thi đại khoa đã chọn được 2991 tiến sĩ thì Bắc Ninh đã đỗ 645 tiến sĩ (chiếm 1/4). Trong số ấy, những người dân đỗ tam khôi (Trạng nguyên) là 47 thì Bắc Ninh đã chiếm 17 (hơn 1/3).

Người đỗ “thủ khoa” của khoa thi thứ nhất ở Đại Việt vào thời Lý (1075) là Lê Văn Thịnh (quê Đông Giúp, Gia Bình) từng làm đến chức Thái sư, Tể tướng, được xem là “ông Trạng khai khoa”. Tự hào về truyền thống cổ truyền hiếu học, trân trọng các bậc hiền tài đã góp sức trí tuệ cho quê hương đất nước, cùng theo đó đề cao, khích lệ sự chịu khó học hành cho các dòng đời, Văn miếu Bắc Ninh đã được lập nên.

Cổng vào văn miếu Bắc Ninh
Cổng vào văn miếu Bắc Ninh

Bắc Ninh cũng chính là địa chỉ thứ nhất Nho giáo truyền bá vào Việt Nam và nâng tầm phát triển biến thành một giữa trung tâm Hán học bậc nhất toàn nước.
Quan niệm tôn sư trọng đạo biểu thị trông rất rõ ràng trong nội dung tấm bia “Bắc Ninh tỉnh trùng tu văn miếu bi ký” dựng ở nhà tiền tế “Thần quyền có sáng láng mới biết vận nước thịnh suy. Đạo thành không hưng bởi sự hủ bại về đạo lý. Tại sao vậy? Đạo lý sinh ra vốn không bỗng nhiên. Ở đời thấy được đạo sẽ biết được họa phúc”.

Theo “Đại Nam nhất thống chí” (tập 4) và văn bia “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” ghi chép : Văn miếu ở phía Đông Bắc tỉnh thành, thuộc sơn phận Thị Cầu huyện Võ Giàng, tu bổ năm Gia Long đầu tiên (1802) làm lại năm Thiệu Trị thứ tư (1838).

Về sau chuyển Văn miếu về núi Phúc Sơn (nói một cách khác là Núi Nác) phường Đại Phúc, Thành phố Bắc Ninh. Năm Bảo Đại thứ ba (1928) Văn miếu lại được tu sửa. Việc di chuyển từ Thị Cầu về núi Phúc Sơn không riêng gì né lụt lội mà còn để di tích lịch sử gần giữa trung tâm “đầu não” của tỉnh.

Văn miếu Bắc Ninh2

Ngoài công trình xây dựng kiến trúc cũ, người xưa đã thành lập thêm ở bên trái hậu đường một dãy nhà Tạo soạn, ở ở bên phải hậu đường là bi đình. Phía trước bi đình là nhà Cộng đồng trị sự rồi nhà cải trang (thay quần áo), nhà để đồ tế khí. Nhà tiền tế là địa chỉ tế lễ các ngày sự lệ hàng tỉnh và là Vị trí để nhân dân tới thắp nhang cầu xin cho con cháu thi tuyển đỗ giành được tốt nhất đẹp.

Nhà hậu đường thờ Khổng Tử và tứ phối “Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Tử, Tử Lô” cùng 12 bậc hiền triết khác. Những vị đỗ đại khoa được khắc trên bia đá “Kim bảng lưu phương ” (Danh thơm lưu mãi bảng vàng) dựng ở bi đình. Những sĩ tử đỗ dưới học vị Tiến sĩ như cử nhân, hương cống được đo đạc danh xưng đặt ở hữu vu còn tả vu ghi danh các tạo sĩ.

Tới năm Quý Tỵ, niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), quan Đốc học tỉnh Bắc Ninh là Đỗ Trọng Vỹ, người xã Đại Mão, huyện Thuận Thành hoạt động các vị văn thân, chức sắc, nhân dân các bản địa góp tiền của chuyển Văn miếu về núi Phúc Sơn (nay thuộc Khu 10, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh).

Sở dĩ địa chỉ đây được lựa chọn vì theo ý niệm phong thủy của người xưa, núi Phúc Sơn là một ngọn núi mọc lên giữa vùng đồng bằng trung du rộng lớn trù phú là địa chỉ có nội khí tốt nhất, việc thành lập Văn miếu địa chỉ đây tốt nhất cho việc học, thuận lợi việc cúng tế hàng năm của tỉnh.

văn bia “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” trong văn miếu Bắc Ninh
văn bia “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” trong văn miếu Bắc Ninh

Du lịch Bắc Ninh, tham mối quan hệ thống văn bia gồm 14 tấm (một tấm ghi công đức, 2 tấm ghi việc trùng tu văn miếu và 11 tấm ghi danh các vị đỗ đại khoa) là các di vật trị giá ở di tích lịch sử.Những bia tiến sĩ có chiều cao 1,1m bề ngang 0,75m, bề dày 0,15m. Trán bia chạm hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” và hình tiết mây cuốn, khắc nổi 4 chữ “Kim bảng lưu phương”, lân cận có hai dòng chữ bé dại khắc chìm ghi thời hạn khắc bia.

Mỗi tấm bia tiến sĩ đều ghi thứ tự thời hạn mỗi khoa thi và thứ hạng danh xưng, học vị quê quán, chức tước của người thi đỗ theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Thứ hạng học vị danh xưng được trân trọng khắc chữ lớn. Nếu vị đại khoa nào có công dụng hay sự việc dị biệt như thần đồng, tam nguyên, tứ nguyên hay tình huống từ quan ẩn dật thì cũng được chú ý đặt phần này.Trước năm 1945, Văn miếu Bắc Ninh do Cộng đồng trị sự chủ tịch, cầm đầu Cộng đồng là quan Tổng đốc Bắc Ninh để quan tâm việc thờ phụng, tế lễ.

Hàng năm, việc tổ chức tế lễ tại Văn miếu vào dịp “xuân thu nhị kỳ” được ấn định vào các ngày Đinh vào đầu tháng hai và ngày Đinh vào đầu tháng tám Âm lịch, là việc kiện rất quan trọng của tỉnh nên được chuẩn bị hết sức chu đáo. Tham gia tế lễ là các quan đầu tỉnh và các bản địa. Trước ngày chính lễ, Văn miếu được bao sái đồ thờ tự, phong cờ thần từ cổng vào hai bên đường lên. Lễ vật do Cộng đồng trị sự chuẩn bị bao gồm: Trâu, dê, lợn, xôi quả phẩm, rượu…

Một góc của văn miếu Bắc Ninh
Một góc của văn miếu Bắc Ninh

Ngày chính lễ, Tổng đốc người đầu tàu tỉnh đón đầu ăn diện chỉnh tề, kế nhiệm là các quan hàng tỉnh, huyện, trương tuần hộ tống. Nằm trong Văn miếu các nho sinh, kỳ mục ngồi chỉnh tề, tàn lọng nghi trượng tráng lệ và trang nghiêm bùng cháy. Thời gian tế lễ nối dài tuân thủ chặt chẽ từng động tác, giai đoạn của nghi lễ thắp nhang. Sau khi quan đầu tỉnh khai lễ xong, các quan viên hàng huyện, chánh tổng, nho sinh lần lượt vào lễ nêu cao truyền thống cổ truyền tôn sư trọng đạo của dân cư xứ Bắc Ninh – Kinh Bắc.

Suốt mấy chục năm qua do cuộc chiến tranh nối dài và nắng mưa, mối mọt thêm vào đó một trong những ý niệm sai lạc nhất thời… làm cho các công trình xây dựng kiến trúc bị xuống cấp nghiêm trọng. Thời gian gần đây Bộ Văn hóa và Sở Văn hóa đã góp vốn đầu tư 50 triệu đồng để tu bổ nhà tiền tế, nhà thời thánh, cục bộ bia tiến sĩ được bày ở nhà tiền tế, nhà thời thánh, cục bộ bia tiến sĩ được bày ở nhà tiền tế, xây tường xung quanh vị trí.

Những cố gắng những bước đầu tiên sửa sang hình dáng Văn miếu Bắc Ninh thật đáng khuyến khích. Có điều các trị giá mang tính nhân văn của di tích lịch sử rất cần được được phát huy một phương pháp thiết thực không dừng lại ở đó còn nếu như không mọi việc tu bổ sẽ cũng trở thành có hại bởi di tích lịch sử lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền chỉ “nhộn nhịp” khi nó đã “hóa thân” thành sức mạnh tinh thần của mọi cá nhân và thế giới.

Học sinh dâng hương ở văn miếu Bắc Ninh
Học viên thắp nhang ở văn miếu Bắc Ninh

Muốn cho mỗi cá nhân nhất là các dòng đời học sinh hiểu được đặc biệt ý nghĩa đích thực của di tích lịch sử, thường xuyên tuyên truyền, hoạt động giáo dục họ để cục bộ có ý thức giữ gìn bảo đảm và noi gương các bậc tiền bố về học hành thi tuyển phụng sự đất nước. Theo cẩm nang du lịch Bắc Ninh, các dịp khai giảng năm học mới, lễ hội…

Nhà trường Thành phố Bắc Ninh nên tổ chức đưa học sinh tới Văn miếu Bắc Ninh thắp nhang các nhà khoa bảng và nói cho các em nghe về lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền bản địa, cùng theo đó trao phần thường cho các học sinh giỏi của tỉnh ở đây.Nổi trội, các câu lạc bộ văn nghệ, thơ ca… rất có khả năng mỗi tháng hoặc định kỳ tổ chức các cuộc ngâm vịnh, ca xướng, bình văn ở văn miếu. Có các hoạt động kể trên sẽ khiến di tích lịch sử lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền sắc nét.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Văn miếu Bắc Ninh- biểu tượng của đất học

Review Tham Quan Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh ở đâu,lịch sử,kiến trúc 2022

dinhdinhbang02

Đình làng Đình Bảng ở đâu ?

Đình làng Đình Bảng tên Nôm là đình Báng là một ngôi đình tọa lạc ở làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đình làng Đình Bảng tọa lạc trên vùng châu thổ sông Hồng, trải chạy dọc theo trục đường đại lộ 1A, cách thức Thủ đô TP Hà Nội khoảng 20km về hướng Bắc.Đình được thành lập vào thời điểm đầu thế kỷ 18, thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn đại vương, Thủy Bá đại vương và Bách Lệ đại vương cùng theo đó thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ 15.

Chỗ đứng: Cổ Pháp, Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh

Lịch sử Đình làng Đình Bảng

Đình làng Đình Bảng được thành lập năm 1700 thời Hậu Lê nối dài ba mươi sáu năm tới năm 1736 mới hoàn thành xong. Người hưng công là quan Nguyễn Thạc Lương, người Đình Bảng (từng làm trấn thủ Thanh Hóa) và bà xã là Nguyễn Thị Nguyên, quê ở Thanh Hóa. Ông bà đã mua gỗ lim, một loại gỗ quý và bền đem về cúng để dựng ngôi đình.

Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh

Kiến trúc Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh

Đình làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) làm tuyệt đối hoàn hảo được làm bằng gỗ lim, vẫn giữ gần như là nguyên vẹn kiến trúc cách thức đây 300 năm.

Từ ngày xưa, dân gian xứ Bắc có câu: “Thứ nhất là đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng, quang vinh đình Diềm”. Ngày nay, đình Đông Khang đã không còn, đình Diềm trước có năm gian, nay còn ba gian. Chỉ có đình Báng (đình Đình Bảng) còn khá nguyên vẹn.

Đình Báng được thành lập năm 1700-1736, do ông quan Nguyễn Thạc Lượng, người Đình Bảng và bà xã là bà Nguyễn Thị Nguyên (quê Thanh Hóa) thành lập. Khi nghỉ làm quan ở Thanh Hóa, ông Lượng đã mang đi 8 bè gỗ lim. Từ thời điểm năm 1686 đến năm 1700, ông thành lập tư dinh cho dòng họ, tới khi tay nghề thợ vững mới buổi đầu xây đình.

Cũng tương tự nhiều đình làng Việt Nam dựng vào thời điểm cuối thế kỷ 17, thời điểm đầu thế kỷ 18, đình Báng có kiến trúc bề thế, hòa phù hợp thiên nhiên Việt Nam. Đình có mái dài, cao, các đầu đao uốn cong vút, lợp ngói mũi hài dày bản, rộng khổ. Góc mái tức “tàu đao” làm cong uốn ngược.

Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh1

Trên 28 chiếc kẻ hiên là 28 đầu rồng, mỗi đầu mang một vẻ sinh động. Có con rồng nhỏ xíu, hai chân nắm râu mép, hình dạng ngộ nghĩnh, tươi cười; có con mang nét oai phong, hùng dũng; con lại rất chi là hiền lành…

Tòa đại đình được xây trên nền cao ba bậc đá xanh bao quanh. Bốn mặt bưng kín bằng ván có khả năng tháo mở. Đại đình gồm 6 hàng chân cột với 60 cột cái được làm bằng gỗ lim 2 lần bán kính từ 0,55 tới 0,65 m đặt trên đá xanh, cứu công trình xây dựng thêm vững bền.

Đại đình hình chữ nhật, dài 20 m, rộng 14 m. Đình có cấu trúc hệ kèo chồng rường, gồm bảy gian hai chái (gian phụ). Nóc đình cao đến 8 m với mật độ mặt đứng của phần mái lớn hơn phần thân (mái chiếm hai phần ba chiều cao của đình) tạo ra cảm xúc bề thế.

Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh2

Cục bộ hệ kèo, cột đều được chạm khắc, các rõ nét khác biệt. Nghệ thuật điêu khắc bộc lộ Xu thế của thời hạn thời điểm cuối thế kỷ 17, đầu 18 là thẩm mỹ cung đình áp dụng thẩm mỹ dân gian.

Trên các cấu kiện đều chạm khắc hình chữ triện, rồng với nhiều chủ đề như lưỡng long vờn mây, lưỡng long chầu nhật, ngũ long tranh châu, lục long ngự thiên, đi kèm theo đây chính là hình con phượng, nghê và hoa lá…

Hình rồng chiếm con số lớn với khoảng 500 hình. Con rồng mang nhiều lớp nghĩa, như dấu hiệu cho mây, mưa và ước vọng mùa màng thuận lợi của rất nhiều người nông dân. Rồng cũng dấu hiệu cho uy quyền của bậc đế vương, đặt ở đình càng gia tăng địa vị của Thành hoàng làng.

Theo các cụ cao niên trong làng, đình Đình Bảng có toàn bộ 28 kiểu chạm khắc bộ long và hàng trăm kiểu chạm khắc bộ ly, quy, phượng, không một bộ nào giống nhau về hình thể cũng giống như kích cỡ.

Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh3

Những đường nét được chạm khắc tinh xảo tới từng rõ nét bé dại. Nét sắc sảo trong thẩm mỹ điêu khắc ở đình Đình Bảng khiến bất kể ai tới đây cũng cần phải khâm phục bàn tay tài hoa của cha ông.

Đình làng Đình Bảng đình đám với kiến trúc đình làng độc lạ thượng hạng Việt Nam. Qua thời hạn cũng giống như cuộc chiến tranh, ngôi đình bị hư hỏng đôi chút nhưng đã được tôn tạo, vẫn không thay đổi được vẻ bắt đầu và là niềm tự hào của rất nhiều cư dân Kinh Bắc.

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Đình làng Đình Bảng Bắc Ninh

Review Tham Quan làng gốm Phù Lãng Bắc Ninh ở đâu,lịch sử,quy trình 2022

7 4

làng gốm Phù Lãng Bắc Ninh không riêng gì đình đám với các tấm áo tứ thân gắn kèm với bức ảnh liền anh liền chị trong các làn điệu quan họ tha thiết, lắng đọng và ngọt ngào. Về vùng đất Kinh Bắc, du khách còn được tìm hiểu và chiêm ngưỡng các dòng sản phẩm gốm đẹp và độc lạ tại . 

Làng gốm Phù Lãng ở đâu ?

Phương thức thành phố Hà Nội khoảng 60km về hướng Bắc, tọa lạc ven đại lộ 18, làng gốm Phù Lãng là 1 trong các các làng gốm đình đám miền Bắc thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh với nhiều tiềm năng để nâng tầm phát triển du lịch. 

Địa điểm: phấn trung, Phù Lãng, Quế Võ, Bắc Ninh

Smartphone: 094 280 20 62

Lịch sử của làng gốm Phù Lãng

Làng gốm Phù Lãng là 1 trong các các làng gốm truyền thống cổ truyền đình đám trong toàn nước. Làng gốm thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, cách thức thành phố Hà Nội khoảng 60 km. Để tới thăm làng gốm bạn cũng tồn tại thể chọn các phương tiện đi lại khác biệt cho chuyến hành trình của tôi.

Từ thành phố Hà Nội rất có khả năng đi xe gắn máy theo đại lộ 5 rồi rẽ lên đường 1A mới. Đến bùng binh cầu vượt ở Bắc Ninh thì rẽ phải theo lối đi Phả Lại, tiếp đó bạn đi xuống một tuyến đường làng nhỏ dại qua chợ Châu Cầu chừng 5 – 10 phút là đến. Ngoài ra, du khách còn sinh tồn thể đi xe buýt số 54 từ Long Biên về thành phố Bắc Ninh rồi liên tục bắt xe Bắc Ninh – Sao Đỏ sẽ về qua làng gốm Phù Lãng.

làng gốm Phù Lãng

Làng gốm Phù Lãng đã có khá nhiều lịch sử dựng nên và nâng tầm phát triển rất chi là lâu năm.Theo sử sách lưu lại, ông tổ nghề của làng gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào thời gian cuối thời Lý, ông được triều đình cử sang Trung Quốc. Ông học được nghề làm gốm và về truyền dạy cho người nội địa. Trước tiên, nghề đó được truyền cho người dân đôi bên bờ sông Lục Đầu, tiếp sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Thành Phố Hải Dương).

Vào tầm khoảng vào đầu thế kỷ 13( thời nhà Trần) nghề được truyền tới đất Phù Lãng Trung. Hiện nay, Kho lưu trữ bảo tàng Lịch sử Việt Nam, vẫn còn lưu giữ và trình diện một vài dòng sản phẩm gốm Phù Lãng có niên đại khoảng thế kỷ 17 – 19. Đây chính là dòng sản phẩm gốm men nâu và các sắc độ của chính bản thân nó như men da lươn, vàng nhạt, vàng nâu…

Check - in tại làng gốm Phù Lãng

Quy trình tạo nên một loại mặt hàng gốm tại làng gốm Phù Lãng

Làng gốm Phù Lãng ra mắt cách thức đây hơn 700 năm, đình đám với các dòng sản phẩm đồ dân dụng như vại, ấm, nồi, chum, chậu hoa, đôn cảnh, … Khoảng hơn 10 năm quay trở lại đây, nhờ bắt nhịp được với thị hiếu của thị trường, người làng Phù Lãng đã tìm ra hướng đi mới cho sự nâng tầm phát triển của làng nghề. Đó đây chính là việc nâng tầm phát triển sản phẩm gốm mỹ nghệ. Gốm Phù Lãng triệu tập vào ba mô hình:

– Gốm áp dụng trong tín ngưỡng như: lư hương, đài thờ, đỉnh…

– Gốm dân dụng: lọ, bình, chum, vại, ống điếu…

– Gốm bày diễn trang trí: bình, ấm hình thú, chậu hoa…

Các nghệ nhân đang trang trí hoa văn trên các sản phẩm gốm

Nguyên liệu để có thể tạo ra các dòng sản phẩm của làng gốm Phù Lãng là đất sét nung có màu hồng nhạt, thông qua nhiều các bước, đất sét nung được luyện dẻo mịn rồi tạo hình trên bàn xoay thủ công thủ công bằng tay của các người thợ thủ công. Tương tự nhiều làng gốm truyền thống cổ truyền khác như Bát Tràng (Gia Lâm), Thổ Hà (Việt Yên) phương thức tạo hình dòng sản phẩm (có tiết diện tròn) là chuốt.

Toàn bộ các dòng sản phẩm được đẩy lên bàn xoay tay, chuyển động bao vây bàn xoay có 3 người, trong số đó có một người chuyên ngồi chuốt, một người vần bàn xoay, và một người chạy ngoài. Nếu như với dòng sản phẩm có kích thước nhỏ dại, rất cần phải có 2 người tạo dòng sản phẩm: một người chuốt và một người vần bàn. 

làng gốm Phù Lãng

Gốm được tạo hình thủ công tỉ mỉ và cảnh giác.Dòng sản phẩm sau lúc đã tạo hình xong, làm cho se dần, tới khi chạm tay không cảm nhận dính, khi đó người thợ triển khai thúng, đấm, thúc bên phía trong của dòng sản phẩm cho thành hình đồ đạc, làm cho ráo. Hiện tại nếu cảm nhận trên dòng sản phẩm có vết rạn nứt thì sẽ vá lại bằng đất mịn và nát. Bước sau cùng để hoàn thiện dòng sản phẩm là ve, nạo. Sau đó, dòng sản phẩm được tráng một  lớp men lên.

Chất liệu làm men tráng bao gồm: tro cây rừng, vôi sống, vôi ống nghiền nát, bùn phù sa trắng. Bốn nhiên liệu này, sau lúc sơ chế trộn đều cùng nhau theo một mật độ không thay đổi, rồi chế thành một chất lỏng. Khi dòng sản phẩm còn ẩm, người thợ áp dụng chổi lông quét men lên bên phía ngoài dòng sản phẩm một lớp mỏng manh tương thích rồi đem phơi. Sau khi quét men và phơi khô, các dòng sản phẩm đều phải có màu trắng đục. 

làng gốm Phù Lãng

Chính là bước không dễ, bởi vậy đòi hỏi nghệ nhân phải có rất nhiều kinh nghiệm.Sau khi đã được tráng men và phơi khô, gốm được xếp thành từng chồng để lấy vào lò nung. Xếp dòng sản phẩm trong lò nung phải làm theo nguyên lý tiết kiệm tối đa khoảng trống của lòng lò. Muốn vậy người thợ thủ công phải xếp chậu nhỏ dại trong chậu lớn, hàng bé tọa lạc trong hàng lớn… Cứ như thế, dòng sản phẩm được xếp tận nóc lò. Phương thức xếp hàng này có chức năng là cục bộ các không gian trong lò đều phải có dòng sản phẩm. Thời gian đun lò nối dài 12 giờ.

Khám phá nét xin xắn của làng gốm Phù Lãng

Những dòng sản phẩm gốm của làng Phù Lãng không riêng gì góp phần một trong những phần rất cao vào sự nâng tầm phát triển kinh tế của bản địa mà còn đóng góp phần tạo ra nét văn hóa truyền thống cổ truyền rực rỡ của vùng đất Kinh Bắc.

làng gốm Phù Lãng

Làng gốm Phù Lãng là một nét xin xắn văn hóa truyền thống cổ truyền đã không còn thiếu của miền đất quan họ.Khác với các làng gốm khác, dòng sản phẩm gốm Phù Lãng được phủ một lớp men có hoa văn màu da lươn trông vừa thanh nhã vừa bền đẹp. Thêm nữa, nét đặc thù đặc điểm của gốm Phù Lãng là áp dụng phương thức đắp nổi theo như hình thức chạm kép, màu men bỗng nhiên, bền và lạ; dáng của gốm mộc mạc nhưng ẩn chứa vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa, và rất đậm nét của điêu khắc tạo hình.

Khám phá nét đẹp của làng gốm Phù Lãng

Với lòng yêu nghề, sức sáng tạo, trên chất cốt truyền thống cổ truyền, họ đã vẽ lên một hình dạng tuyệt đối hoàn hảo mới cho dòng sản phẩm truyền thống cổ truyền bằng cách thức biến đổi mẫu mã và thêm vào hình tiết, hoa văn bày diễn trang trí trên dòng sản phẩm. Có khá nhiều dòng sản phẩm thỏa mãn nhu cầu được nhu yếu khác biệt của các khách hàng như: đèn, bình đựng hoa, đôn, phù điêu, … Nổi biệt, những cái lọ bày diễn trang trí có sự phối kết hợp giữa gốm và gỗ đang rất thông dụng.

Tranh gốm nổi tiếng làng Phù Lãng được làm thủ công

Một loại sản phẩm bạn đã không còn bỏ qua lúc tới với làng gốm Phù Lãng, đó đó thuộc dòng tranh gốm. Nhờ sự khéo tay, tinh tế và sắc sảo và tỉ mỉ của các người thợ gốm đã tạo ra các bức họa đồ rất chi là nhộn nhịp. Để có thể tạo nên một bức họa đồ gốm cần thông qua nhiều các bước từ dàn đất, tạo hình, cắt tranh, phơi tranh, nung, ghép tranh… Riêng với tranh gốm thì phải nung bằng lò ga cho bức họa đồ đất “chín” đều, không trở nên cong, vênh, né bụi, bẩn hay cháy đen.

Sự tỉ mỉ, tinh tế của những người thợ lành nghề đã tạo nên tác phẩm tuyệt đẹp

Thật không yêu cầu khi chúng ta ghé qua làng gốm Phù Lãng mà hoàn toàn không mua cho chính bản thân các bức họa đồ gốm để bày diễn trang trí cho khoảng trống hộ dân mình giống như làm quà Tặng Ngay cho bạn thân, người thân. Hiện nay, các dòng sản phẩm của làng gốm Phù Lãng không riêng gì có mặt ở các thị trường nội địa mà còn được xuất khẩu đi các nước khác như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… với các dòng sản phẩm phong phú và đa dạng phong phú.

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ làng gốm Phù Lãng Bắc Ninh

Review Tham Quan Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh ở đâu,kiến trúc 2022

1 12

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh ở đâu ?

Tới với Bắc Ninh người ta nghĩ ngay đến cái nôi văn hóa cổ truyền Lạc Việt, các làn điệu dân ca quan họ dịu ngọt… Vậy nhưng nhớ là ở đây còn sinh tồn Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh – ngôi Thánh Đường 127 tuổi cổ kính với kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ có một không hai.

Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh tọa lạc tại đường Ngô Gia Tự, Ninh Xá, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đặt nhà thờ đắc địa ngay trọng tâm thành phố Bắc Ninh và chỉ phương thức thành cổ Bắc Ninh 300m.

Nơi đặt: 537 Ngô Gia Tự, P.Tiền An, Bắc Ninh

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh

Năm 1889, Đức cha Antonio Lễ – Giám mục tiên khởi đã chọn mua mảnh đất nền ở đây và ban đầu cho thành lập nhà thờ cùng với Tòa Giám Mục. Sau 3 năm thành lập, tới năm 1892 Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh chính thức được khánh thành. theo đó tới nay, đấy là địa chỉ triệu tập sinh hoạt thường xuyên tín ngưỡng tôn giáo của giáo dân Bắc Ninh và các vị trí bao vây. 

Trong các năm cuộc chiến tranh ác liệt, nhiều công trình xây dựng lịch sử bị tiêu diệt nặng nề. Vậy nhưng thông qua hơn một trăm năm thăng trầm, nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh vẫn sừng sững vững vàng vượt mặt bom đạn, rêu phong của năm tháng và biến thành biểu tượng cho giáo phận Kinh Bắc, là “di sản Đức Tin” lưu giữ các dẫn chứng lịch sử hùng hồn của dân tộc. Nhờ thế mà dù gặp biết bao nan giải trong cuộc sống đức tin, nhưng niềm tin sắt son của giáo phận Bắc Ninh vẫn mãi kiên vững không lay. 

Kiến trúc khác biệt của Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh được thành lập theo lối kiến trúc Baroque khác biệt của Ý được dựng nên vào thế kỉ XVI. Không gian nhà thờ được thành lập theo cấu trúc hình chữ thập và làm theo điều khoản đối xứng đặc thù của kiến trúc nhà thờ thời kỳ Phục Hưng. Nhà thờ có chiều dài khoảng 45m, chiều ngang rộng 12m được tạo thành từ 12 cột chính hình chữ nhật cao hai tầng đặc trung cho 12 vị thánh tông đồ, chia đều hai hàng mỗi bên sáu chiếc.

Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh1

Nhìn từ xa, các bạn sẽ cực kỳ điểm gây chú ý với hình ảnh bên ngoài bên ngoài của Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh. Điểm nổi bật đầu tiên là mặt tiền nhà thờ với hai ngọn tháp cao 22m. Ngọn tháp đó được tạo thành từ 4 khối hình hộp xếp chồng lên nhau và trên cùng là tháp chóp. Có cách nhìn nhận định rằng hai ngọn tháp này đặc trung cho liền anh và liền chị đang đứng nâng chiếc nón quai thao.

Phía trong hai ngọn tháp có treo ba quả chuông bằng đồng được đúc từ khi thành lập nhà thờ. Suốt hơn một thế kỉ qua, tiếng chuông nhà thờ Bắc Ninh cao nhòng không còn xa lạ vẫn vang lên đều đặn lan tỏa khắp các phố phường. Tiếng chuông ấy đã biến đổi thành 1 phần đã hết thiếu trong cuộc sống tín ngưỡng kể riêng và trên miền quê hương Quan họ kết luận.

 Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh2

Phía mặt trước nhà thờ ta có khả năng đơn giản dễ dàng nhận ra quá nhiều tấm hình đặc trung về Đức Mẹ. Trên cùng là biểu tượng của Mẫu Tâm với hình con tim phối kết hợp cùng vương miện. Ngay dưới đây là tấm hình triều thiên cùng bốn lọ hoa đặc trung cho Đức Mẹ Mân Côi.

Hai kề bên chạm khắc hai huy hiệu Giám mục được cho là của Đức Cha An-tô-ni-ô Cô-lô-mơ Lễ Lễ và Ðức cha Mac-xi-mi-nô Van-lát-cô Khâm. Phía dưới là bốn bông hồng được khắc thêm trong mùa kỉ niệm nhà thờ tròn 100 tuổi, biểu tượng cho lòng sùng mến Đức Mẹ. Dưới sảnh đường nhà thờ bố trí ba cửa vào, một cửa lớn ở chính diện và hai cánh cửa phụ bé dại hai bên. Vấn đề này khá như nhau với cổng làng Tam quan ở các làng quê Việt Nam.

 Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh3

Lấn sân vào nằm trong nhà thờ, có lẽ rằng các bạn sẽ vẫn điểm gây chú ý không dừng lại ở đó với khoảng không địa chỉ đây. Một khoảng không rộng lớn, rộng rãi và tràn trề tia nắng lộng lẫy mỗi buổi sớm khi nắng mai chiếu xuống. Gian cung thánh đấy là trọng tâm nhà thờ với thiết kế kiến thiết rất chi là khác biệt và sắc sảo với hàng trăm mảnh gỗ Hương đỏ xếp xen kẹt nhau. Mái xà nhà thờ được xây được làm bằng gỗ dồi theo kiểu đan mắt cáo.

Hai bên là các bức họa kính khắc họa chân dung 4 vị Thánh sử và diễn đạt 20 mầu nhiệm kinh Mân côi. Điểm nổi bật của gian cung thánh đấy là cây Thánh giá được thiết kế được làm bằng gỗ hương đỏ lớn cùng tượng “Chịu nạn” được trạm trổ được làm bằng gỗ Pơmu nguyên khối. Ở ở bên trên gác đàn có 12 bức phù điêu vẽ 12 nhà thờ giáo xứ đầu tiên được thiết lập khi giáo phận mới được khai sinh vào khoảng thời gian 1883. 

 Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh4

Phía cuối nhà thờ là Chính toà – vị trí đặt ngai Giám mục biểu thị cho sự hiện hữu diện và quản lý của Đấng Bản Quyền giáo phận. Bàn Thánh, Ghế và bục đều được thiết kế từ gỗ Hương đỏ chạm khắc sắc sảo đặc trung cho sự giao hoà đất trời và sự vĩnh cửu trường tồn của Đạo Chúa. 

Bên trái gian cung thánh là bức tượng phật Nữ Vương Thánh Mân Côi cổ nhất Giáo phận. Theo dữ liệu ghi chép lại, bức tượng phật này được các Cha Dòng Đa Minh Tây Ban Nha khuyến mãi nhà thờ nhân ngày khánh thành năm 1892. Dáng dấp mềm mịn và mượt mà, nữ tính khiến cho bức tượng phật thêm sôi động và mang đậm hơi thở của cuộc sống Đức Tin. Đối lập sang phía phía ở bên phải gian cung thánh là tượng Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh, trong tay cầm cành thiên tuế.

Thời vua Minh Mạng ngài đã can trường đứng vững Đức tin qua việc định vị “Thiên Chúa là thượng phụ” và chịu phúc tử đạo vào trong ngày mồng 5 tháng chín năm 1838 tại pháp trường Cổ Mễ. Tới ngày 27 – 5 – 1900, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước của Giáo Hội. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn Ngài lên bậc Hiển Thánh.

 Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh5

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh – điểm đến chọn lựa lựa chọn không card bỏ qua

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh đã thông qua một lần trung tu vào khoảng thời gian 1990 nhưng địa chỉ đây vẫn còn nguyên vẹn nét kiến trúc cổ kính vốn có. Ngày nay, địa chỉ đây điểm sinh hoạt tôn giáo thường xuyên của không ít giáo dân. Vào mỗi chủ nhật hàng tuần, mỗi cá nhân đều cùng đến nhà thờ và cầu nguyện. Ngày nay, địa chỉ đây biến thành một điểm đến chọn lựa lựa chọn của các giáo dân trong vị trí giống hệt như khách tham quan và tất cả chúng ta trẻ đến tham quan tìm hiểu.

 Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh6

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh

Review Tham Quan Đền Đô Bắc Ninh ở đâu,kiến trúc,lưu trú,đặc sản 2022

den do 11 optimized

Đền Đô Bắc Ninh đã thông qua nhiều triều đại, vã quá nhiều lần được tu sửa, lan rộng ra. Địa điểm đây không các là điểm tham quan khảo sát về lịch sử dân tộc hào hùng. Mà địa điểm đây còn là địa điểm mày mò bản vẽ xây dựng cung đình với phong phương thức dân gian độc lạ. Phong cảnh kiến thiết khắc trạm cực kỳ xinh, phối họp rất hài hoà với thiên nhiên.

Đi du lịch tới đây các bạn sẽ cảm nhận nhiều nhiều đường nét chạm khắc tinh xảo, công phu phối với thẩm mỹ khắc đá, gỗ, tạc tượng. Một phong phương thức bản vẽ xây dựng rất riêng của triều đại nhà Lý không xen lẩn được với bất kỳ triều đại nào.

Đền Đô Bắc Ninh tọa lạc ở đâu?

Đền Đô Bắc Ninh thuộc xóm Thượng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nó phương thức thủ đô TP Hà Nội gần 20 km về hướng Bắc. Địa điểm đấy là một quần thể bản vẽ xây dựng tín ngưỡng tâm linh di sản lịch sử văn hóa cổ truyền. Từ Sơn Bắc Ninh không riêng gì là khu du lịch thiên nhiên, mà địa điểm đây còn là khu du lịch văn hoá lịch sử dân tộc.

Đền Đô Bắc Ninh

Địa điểm đây nôi tiếng với dân ca quan họ Bắc Ninh, với nhiều phong tục tập quán cổ điển của không ít người Việt. Bắc Ninh còn là địa điểm sản sinh ra bao anh hùng dân tôc, được người đời ca tụng là: địa linh nhân kiệt.

Nơi đặt: Lý Thái Tổ, Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh

Giờ mở cửa :07:00–17:00

Thời điểm xinh tuyệt vời và hoàn hảo nhất nhất để đi tham quan Đền Đô Bắc Ninh?

Khí hậu ở Bắc Ninh khá không thay đổi mang tính chất ôn đới thoáng mát quanh năm. Cho nên các bạn cũng sẽ có thể tới đây tham quan bất kỳ thời hạn nào trong năm củng được. Nếu tất cả chúng ta muốn đi khảo sát văn hóa cổ truyền lể hội di tích lịch sử lịch sử ở đây thì lấn sân vào tháng một – tháng ba. Còn tham quan tự sướng kiểm tra in thì từ thời điểm tháng bốn – tháng năm. Vì hiện nay điều kiện thời tiết khô ráo và đẹp, thuận lợi cho việc tham quan tự sướng ở Đền Đô Bắc Ninh.

Đền Đô Bắc Ninh

Lối đi và phương tiện đi lại di chuyển tới Đền Đô Bắc Ninh

Đền Đô Bắc Ninh chỉ phương thức Hồ Hoàn Kiếm ở TP Hà Nội gần 20km. Cho nên tất cả chúng ta hoàn toàn có khả năng nên dùng mô tô hoặc đi buýt để di chuyển tới vị trí này. Nhưng nếu chuyển dịch xe chỗ đông người thì tới địa điểm bạn cần phải di chuyển bộ giữa các khu du lịch là khá cực bạn nhé.

Xe máy

Xuất phát từ Hồ Hoàn Kiếm TP Hà Nội, bạn di chuyển về phía Ngã tư Sở tới đường Khuất Duy Tiến,bán hòn đảo Linh Đàm. Sau đó chạy lên trên cầu vượt rồi đi thẳng tới Quốc Lộ 1B cho tới khi nhìn cảm nhận biển báo cổng chào Thành Phố Bắc Ninh.

Xe buýt

Ở TP Hà Nội có khai phá tuyến xe bus đi Bắc Ninh. Những tuyến hay chạy mang số 54, 203, 204 ở điểm trung chuyển Long Biên. Thời gian di chuyển khoảng 1 giờ đồng hồ đeo tay đeo tay.

Đường đi và phương tiện di chuyển đến Đền Đô Bắc Ninh

Giới thiệu sơ lược về Đền Đô Bắc Ninh

Đền Đô thời trước được gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế. Nó được thành lập từ thế kỉ thứ 11 và đấy là địa điểm thờ tám vị vua nhà Lý.

  • Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (Giai đoạn 1009-1028)
  • Lý Thái Tông (Giai đoạn 1028-1054)
  • Lý Thánh Tông (Giai đoạn 1054-1072)
  • Lý Nhân Tông (Giai đoạn 1072-1128)
  • Lý Thần Tông (Giai đoạn 1128-1138)
  • Lý Anh Tông (Giai đoạn 1138-1175)
  • Lý Cao Tông (Giai đoạn 1175-1210)
  • Lý Huệ Tông (Giai đoạn 1210-1224)

Đền Đô có tổng cộng 21 dự án công trình lớn nhỏ dại và được phân loại trong ngoài theo bản vẽ xây dựng phong thủy tú địa sơn linh. Ngày 25/1/1991 Đền Đô Bắc Ninh được công nhận là di tích lịch sử lịch sử – văn hóa cổ truyền theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa cổ truyền – Thông tin. Năm 2014, được được đứng thứ hạng là di tích lịch sử lịch sử đất nước nổi bật với nhiều khu lăng mộ các Vua nhà Lý.

Đền Đô Bắc Ninh

Nguồn gốc là lịch sử dựng nên Đền Đô Bắc Ninh

Đền Đô với tên thường gọi là Cổ Pháp, từ thời trước đã được liệt vào làng tam cổ ở đây. Thuở ấy khu vực miền bắc rất nhiều người biết đến Cổ Bi, Cổ Loa, Cổ Pháp. Làng Cổ Pháp được cho là nguồn gốc xuất xứ của triều đình nhà Lý. Đất Cổ Pháp là địa điểm địa điểm xinh tuyệt vời và hoàn hảo nhất nhất Kinh Bắc với phong thủy vượng khí linh thiêng. Nó cứu triều đại nhà Lý nối dài hơn 200 năm.

Đền Đô được khai công thành lập 3/3/1030 tức năm Canh Ngọ. Vị nhà vua Lý Thái Tông đã phát sinh ý tưởng phát minh xây đền vào trong 1 dịp về quê làm giỗ cha. Hiện đền đã được trung tu thành lập lại rất quá nhiều lần. Trong đó lớn nhất là vào 1602, tức năm thứ 3 niên hiệu Hoằng Định của vua Lê Kính Tông. Địa điểm đây còn sinh tồn khắc văn bia đánh dấu công đức của không ít vị vua triều Lý.

Vào khoảng thời gian 1952, thời kỳ Pháp thuộc, quân Pháp đã hủy hoại nhiều di sản văn hóa cổ truyền ở Đền Đô. Tới năm 1989, đền đã được khai công thành lập lại, theo đúng diện mạo và bản vẽ xây dựng của chính bản thân nó thời trước. Bản vẻ bản vẽ xây dựng được các nhà nghiên cứu lịch sử địa thế căn cứ vào dấu tích sót lại và các dữ liệu tàng trữ mà phác thảo lại.

Đền Đô Bắc Ninh

Tại sao Đền Đô Bắc Ninh lại hấp dẫn khách tham quan?

Kiến Trúc Đền Đô Bắc Ninh

Đền Đô có tổng diện tích rộng hơn 31.000m², với 21 hạng mục dự án công trình. Bố cục tổng quan bản vẽ xây dựng chia thành 2 vị trí rõ ràng: nội thành và ngoại thành. Phần nội thành được thiết kế theo phong cách theo bản vẽ xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc. Tuy nhiên cả hai khu đều được chạm khắc cực kì tinh xảo và thành lập rất công phu.

Cổng chính vào Đền Đô Bắc Ninh

Cổng chính vào đền với cấu trúc 3 cổng, một cổng lớn với hai cổng phụ. Mái ngói âm khí và dương khí tạo ra sự uy nghiêm khi vừa bước đến cổng Đền.

Cổng chính vào Đền Đô Bắc Ninh

Ngũ Long Môn

Đây này là cổng vào nội thành với hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Thể hiện sự uy nghiêm và quyền năng tối cao của triều đại.

Ngũ Long Môn

Trung tâm khu nội thành

Này là vị trí trọng tâm là chính điện địa điểm thờ phượng chính. Đi vào chính điện thứ nhất bạn sẽ bắt gặp là một chiếc nhà vuông gọi là Phương đình. Ngôi nhà với 8 mái 3 gian rộng tới 70 m². Tiếp theo là nhà Tiền tế với bảy gian rộng khoảng 220 m². Khu vực đây là địa điểm thờ vua Lý Thái Tổ.

chánh điện

Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng đánh dấu là Chiếu dời đô với chiều cao 3,5m, rộng hơn 8 mét. Chiếu đó được ban bởi vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía ở ở bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nhiều người biết đến “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”

chiếu dời đô

Trong nội thành còn nhiều di tích lịch sử khác như nhà chuyển bồng. Nhà được xây theo bản vẽ xây dựng theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong quyến rũ. Những nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để con Ngữa thờ. Nổi bật, phía Đông đền có nhà bia, chỗ đứng “Cổ Pháp Điện Tạo Bi”. Nó đượx thành lập vào khoảng thời gian 1605, tức năm Giáp Thìn với chiều cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm.

Tấm bia do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, đánh dấu event lịch sử nhà Lê thành lập lại đền và ghi công đức của không ít vị vua triều Lý.

Đền Đô Bắc Ninh

Những nét xin xắn rất riêng của Đền Đô Bắc Ninh

Thắng cảnh con sông Tiểu Tương

Xét về mặt phong thủy thì Đền Đô được tọa lạc ở địa điểm đắc địa, vượng khí, phong thủy cực tốt. Địa điểm mà được đánh giá và thẩm định là Liên hoa bát diệp, có nghĩa là bông sen tám cánh tỏa sáng tâm Phật. Còn được chứng nhận là mảnh đất nền của rồng thiêng. Dân gian thường mệnh danh bằng câu nói Địa linh nhân kiệt xuất nhập hanh thông, có nghĩa là đất thiêng, người giỏi, ra vào may mắn.

Trong cảnh vật phong thủy xinh đẹp như vậy, không hề không kể tới con sông Tiêu Tương chảy qua trước mặt Đền Đô. Địa điểm đây có một ánh mắt triều tượng với cảnh sắc cẩm tú, tụ cư. Điểm tham quan đây là địa điểm tất cả chúng ta tới tự sướng kiểm tra in nhiều nhất ở đây.

Thắng cảnh dòng sông Tiểu Tương

Thủy Đình – thơ mông hơn hết cung đình Huế

Thủy đình là một tòa nhà có khoảng không thoáng đãng với năm gian riêng lẻ. Thủy Đình có bản vẽ xây dựng chồng diêm 8 mái, 8 đao cong tọa lạc giữa hồ Bán Nguyệt. Thủy Đình được nối với bờ bằng một cái cầu đá cực kì đẹp. Thủy đình được thiết kế được làm bằng gỗ lim chắc như đinh, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Này là địa điểm thường trình làng thẩm mỹ múa rối nước và các lể hội dân gian.

Thủy Đình

Thủy đình đã có thời điểm từng được Ngân hàng Đông Dương xưa chọn là bức ảnh in trên tiền giấy thời ấy.

tiền giấy xưa

Nhà võ và nhà văn

Nhà võ và nhà văn có bản vẽ xây dựng giống như nhau. Địa điểm đây sử dụng để thờ các quan văn quan vỏ đã hỗ trợ giữ nước qua các tiều đại nhà Lý.

Nhà võ và nhà văn

Những đường nét chạm khắc mang đậm nét bản vẽ xây dựng nhà Lý ở Đền Đô Bắc Ninh

Đền Đô Bắc Ninh nhiều người biết đến với các dự án công trình bản vẽ xây dựng sang trọng và hoành tráng, hậu cung uy nghi. Trong đền với mùi hương trầm như lan toả khắp khoảng không thơm ngát. Địa điểm đây đã được các nghệ nhân nổi danh nhất thời ấy chạm ngọc khắc rồng. Tới đây các bạn sẽ tự hảo về một triều đại anh hùng linh kiệt hào hùng của dân tộc ta.

Những đường nét chạm khắc mang đậm nét kiến trúc nhà Lý ở Đền Đô Bắc Ninh

Lể Hội Đền Đô Bắc Ninh

Lễ hội đền Đô thường hay được tổ chức hàng năm vào các ngày 14, 15 và 16 tháng ba Âm lịch. Thời điểm đó củng là ngày kỉ niệm Lý Công Uẩn lên ngôi vua và ban “Chiếu dời đô”. Lễ hội này đã biến đổi thành cổ truyền lâu năm ở đây. Nó ngấm sâu vào cuộc sống dân cư địa điểm này. Chúng ta tới đây sẽ tham quan được các lể hội có một không hai ở Bắc Bộ.

Lể Hội Đền Đô Bắc Ninh

Ăn đặc sản gì khi đi tham quan du lịch ở Đền Đô Bắc Ninh?

Bánh đa kế

Bánh đa kế là đồ ăn được thực khách tham quan khắp địa điểm ưa chuộng nhất. Bánh đa kế nướng lên thơm nức, cắn vào miếng bánh vừa có vị bùi của hạt mè, hạt lạc lại đậm đà của lớp gạo ngon. Chi phí kinh phí bánh rất rẻ nên có khả năng vừa ăn vừa mua về làm quà cho hộ dân bạn thân.

Bánh đa kế

Bánh tẻ làng Chờ

Bánh tẻ làng Chờ dẻo ngon chứ không nhão, nát. Bánh có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân với việc nồng nàn của mùi lá. Chắc chắn bánh ở đây không hề lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được.

Bánh tẻ làng Chờ

Bánh phu thê

Bánh phu thê được gói bằng các tấm lá dong đơn giản và giản dị. Bánh có độ dẻo của nếp, độ giòn giòn của đu đủ, vị ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa. Kết họp với vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường,… Bánh phu thê bạn cũng sẽ có thể vừa ăn vừa mua về làm quà khi đi tham quan du lịch Đền Đô Bắc Ninh về.

Bánh phu thê

Bánh khúc làng Diềm

Du lịch Đền Đô Bắc Ninh bạn chớ nên bỏ qua món bánh khúc làng Diềm. Bánh của làng diềm được chế biến từ rau khúc mọc ven bụi chứ không sử dụng bột có sẵn. Chính nhờ vậy nên bánh có vị bùi của lá khúc và ngậy béo của nhân đỗ thịt.

Bánh khúc làng Diềm

Lưu trú Ở chỗ nào khi đi tham quan du lịch Đền Đô Bắc Ninh?

Đền Đô Bắc Ninh ở rất gần với TP Hà Nội, do đó đa số khách tham quan tới đây đều phải sở hữu khách sạn tại TP Hà Nội. Nhưng nếu còn muốn ở lại tham gia trải nghiệm qua đêm tại Từ Sơn Bắc Ninh, thì ở đây củng không hề thiếu khách sạn đáp ứng nhu cầu cho bạn.

  • Jungle House Homestay. Nơi đặt: Từ Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh. Mức giá thành: 2.800.000 – 4.000.000 đồng/đêm.
  • Zen villa. Nơi đặt: thôn Kiều, xã Hiên Vân, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Mức giá thành: khoảng 2.288.000 đồng/4 giờ
  • Rosana Apartment. Nơi đặt: 16 Bùi Xuân Phái, phường Kinh Bắc, Bắc Ninh. Giá: 495.000đ – 620.000VNĐ đồng /đêm
  • Queen homestay. Nơi đặt: 85 Nguyễn Đăng Đạo, Đại Phúc, Bắc Ninh. Giá: khoảng 380.000 đồng /đêm
  • Asia Apartment Hotel Bac Ninh. Nơi đặt: 27N10 Lý Nhân Tông, quận Võ Cường, TP.Bắc Ninh. Mức Giá: khoảng 450.000 đồng /đêm
Đền Đô Bắc Ninh

Cảnh báo

Vì đi đến Đền Đô Bắc Ninh là đi khảo sát vẻ đẹp tâm linh và di tích lịch sử lịch sử. Cho nên tất cả chúng ta phải ăn mạt lịch sự lúc đến đây. Nổi bật tất cả chúng ta nữ chưa được mặc áo hai dây, trể vai, váy ngắn..

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Đền Đô Bắc Ninh

Review Tham Quan lễ hội Vua Bà miền quan họ Bắc Ninh lịch sử,các chương trình 2021

1 Le hoi LNG DIEM VANHIEN.VN

Bắc Ninh là vùng đất nhiều người biết đến với các làn điệu dân ca quan họ lắng đọng và ngọt ngào và sâu lắng. Bây giờ tất cả chúng ta hãy cùng mày mò lễ hội Vua Bà – người đã sáng tạo nên dân ca quan họ nức tiếng xứ Kinh Bắc nhé.

Vài nét về lễ hội Vua Bà

Trong số các lễ hội trên miền quê hương quan họ, tất cả chúng ta đã không còn gì không nói tới lễ hội Vua Bà tại thôn Viêm Xá, hay còn được gọi là làng Diềm, thuộc xã Hòa Long, tỉnh Bắc Ninh. Đấy là một trong những bốn lễ hội quan trọng nhất của tỉnh Bắc Ninh, đã được Bộ Văn hóa cổ truyền, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa cổ truyền phi vật thể vào khoảng thời gian 2016. 

Lễ hội thường được tổ chức vào trong ngày mùng 5, mùng 6 tháng hai âm lịch hàng năm dấu hiệu sự biết ơn và tri ân tưởng niệm Vua Bà – Thủy tổ Quan họ, người có minh bạch sinh ra làn điệu dân ca Quan họ. Có lẽ rằng nhiều người vẫn nhận định rằng lễ hội Lim nhiều người biết đến mới là lễ hội quan họ lớn nhất, vậy nhưng để rất có thể mày mò, khảo sát được đồng loạt lịch sử dựng nên và nâng tầm phát triển quan họ thì bạn cần phải đến thăm lễ hội Thủy Tổ Quan Họ làng Diềm.

Bởi lẽ vì vì đây mới sự thật là khoảng trống để bạn thưởng thức rất đầy đủ và hoàn toàn các hình thức sinh hoạt trong nghề chơi quan họ. Cũng chính vì như vậy mà lễ hội Vua Bà luôn là chỗ hẹn của hầu như khách tham quan thập phương đến tham gia hàng năm.

Đôi nét về lễ hội Vua Bà

Thời Gian Lễ hội Vua bà

Lễ hội Đền thờ Vua Bà Thủy tổ Quan họ hàng năm được làng Diềm (tức làng Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh) tổ chức ngày 6 tháng Giêng âm lịch.

Lịch sử của lễ hội Vua Bà

Tương truyền, lễ hội Thủy Tổ Quan Họ làng Diềm nối sát với việc tích về Vua Bà, đứa con gái của vua Hùng Vương đời thứ 6. Vua Bà có tên thật là Nhữ Nương, vốn dĩ là một vị công chúa tuyệt sắc giai nhân. Như cổ truyền dựng vk gả chồng truyền lại, khi công chúa đến tuổi cập kê, hoàng đế liền mở hội tổ chức lễ cướp cầu kén phò mã cho con gái. Vậy nhưng do không ưng thuận người đoạt giải và không muốn bị trói buộc bởi số phận, tục lệ, công chúa Nhữ Nương đã xin vua cha được rời khỏi kinh thành sang chảnh để đi chu du thiên hạ.

Bà cùng 7 cung nữ đẹp đẹp vừa ra khỏi kinh thành thì bỗng gặp một cơn cuồng phong cuốn toàn bộ lên chầu trời, tiếp sau đó giáng xuống làng Diềm. Truyền thuyết còn kể lại ngày bà giáng xuống là ngày mùng 6 tháng hai âm lịch, cũng chính là ngày hội chính của lễ hội Vua Bà ngày nay.

lễ hội Vua Bà

Khi ấy, làng Diềm chỉ là một khu hoang với vắng rừng rậm che phủ, người dân thưa thớt. Công chúa Nhữ Nương cảm nhận thấy cư dân địa chỉ đây nghèo đói khó khăn nên quyết ở lại khai khẩn đất hoang, lập làng lập xóm giúp sức mọi cá nhân. Bà dạy cư dân làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa,… tạo cuộc đời ấm no niềm hạnh phúc. Không chỉ vậy, bà còn sáng tác ra các câu hát theo lối riêng rồi dạy lại cho cư dân.

Ban đầu chỉ là hai bên nam nữ hát đối với nhau, tiếp sau đó bà tập trung các nam thanh nữ tú trong làng cùng rèn luyện cho nhuần nhuyễn và nhuần nhuyễn hơn. Lối hát ấy này là thủy tổ của dân ca Quan họ ngày nay. Sau này, không riêng gì làng Diềm mà các làn điệu dân ca đã được thịnh hành ra toàn xứ Kinh Bắc, tạo ra một nét văn hóa cổ truyền đặc thù rất riêng mà dường như không địa chỉ đâu dành được.

lễ hội Vua Bà1

Những chương trình trong lễ hội Vua Bà

Lễ hội Vua Bà thường giới thiệu vào hai ngày mùng 5 và mùng 6 tháng hai âm lịch. Trong đó mùng 6 là ngày hội chính, lấy theo ngày Vua Bà giang xuống thôn. Ngay từ chiều ngày mùng 5, dân làng đã có dấu hiệu rục rịch tổ chức lễ mở cửa đền, lễ thắp nhang và lễ cầu mưa rửa đền. Sáng ngày mồng 6 là chính hội.

lễ hội Vua Bà2

Thay mặt các làng Quan họ Bắc Ninh đều tề tựu về đây thắp nhang hoa phẩm vật lên Đức Vua Bà. Lễ tế thần lúc nào cũng sẽ có tiết mục hát Quan họ ca tụng công đức Vua Bà và cầu cho 1 năm sung túc an bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi cực tốt. Tính chất hát thờ ở hội đền Vua Bà chỉ được áp dụng giọng người làng Diềm để dấu hiệu lòng tôn kính. Người dân tự hào gọi này là giọng “A Rằng” chính gốc quan họ. Sau khi lễ tế kêt thúc, dân làng dựng rạp và diễn lại tích “Bà Chúa phát lệnh mở hội Xuân” bên phía ngoài. 

lễ hội Vua Bà3

Tiếp tới là lễ rước kiệu Vua Bà quanh làng. Đấy là nghi lễ cổ truyền lâu năm đặc trung cho chuyến đi Vua Bà đã đặt bàn chân lên vùng đất làng Diềm ngày nay. Đám rước tạm ngừng ở đền Cùng, địa chỉ các cụ trong làng xuống giếng Ngọc lấy nước giếng để triển khai lễ tắm Vua Bà. Tương truyền này là giếng thần không lúc nào cạn, nước sạch trong nhìn cả đáy và rất có thể uống nước mà dường như không cần đun sôi.

Giọng hát đặc thù của rất nhiều người làm Diềm cũng nhờ uống nước giếng đó thường xuyên mà có. Cục bộ các nghi lễ được triển khai nghiêm trang và tôn kính, với ước mong Vua Bà che chở cho dân làng công việc làm ăn thuận lợi, mùa màng tươi cực tốt, cuộc đời an lành.

lễ hội Vua Bà4

Sát bên các nghi lễ tráng lệ và trang nghiêm là phần lễ hội cổ truyền với nhiều chuyển động văn hóa cổ truyền, thể thao tấp nập như đu tiên, vật, cướp cầu, chọi gà, tranh tài cờ tướng, cầu lông…, nhưng rực rỡ và được trông chờ nhất vẫn là các hội giao lưu Quan họ. Dân làng giải trí hết ngày mùng 6 sang tới ngày 7 mới tan hội. Người dân lại tổ chức lễ tế và đóng cửa đền Vua Bà.

lễ hội Vua Bà5

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/Tham Quan lễ hội Vua Bà

Review Đền Bà chúa Kho Bắc Ninh ở đâu,nguồn gốc,kiến trúc, lễ hội 2022

Den Ba chua Kho

Hiếm có ngôi đền nhỏ dại nào lại hấp dẫn hầu như khách thập phương, nổi biệt là giới kinh doanh như đền Bà chúa Kho. Tuy nhiên, ngôi đền này chỉ đông đúc vào đầu và thời điểm cuối năm bởi nhân dân ta ý niệm “đầu xuân năm mới đi vay – thời điểm cuối năm đi trả”.

Đền Bà chúa Kho ở đâu ?

Đền Bà Chúa Kho tọa lạc trên lưng chừng ngọn núi Kho, thuộc địa bàn khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành Phố Bắc Ninh. Đền thờ Bà Chúa Kho – thời bấy giờ còn được gọi là công chúa Thanh Bình. Địa điểm đây hấp dẫn hàng tỷ người tới lễ bái nhân ngày đầu xuân năm mới mới, nổi biệt là giới kinh doanh.

Địa điểm: P, Cổ Mễ, Bắc Ninh, 790000

Nguồn gốc dựng nên Đền Bà chúa Kho

Theo truyền thuyết, từ thời Hùng Vương, giặc phương Bắc kéo quân sang xâm lược VN. Thế giặc rất hùng mạnh, có thêm nội ứng là tù trưởng Cao Bằng tên Lục Đinh. Từ núi Nghĩa Lĩnh, gần ngã ba sông Việt Trì hoàng đế xuất quân đem toàn Bản bộ tới trang Tiên Lát. Địa điểm đây có địa hình thuận lợi cho tất cả phòng giặc và đánh giặc. 

Đền Bà chúa Kho

Những Bản bộ đóng trại tại vùng đó còn lưu tên địa điểm như: Bộ Tre, Bộ Trạ, Bộ Ngạnh, Bộ Nứa, Bộ Trắng, Bộ Hồng… Sáu bộ, thời bấy giờ gọi là Lục bộ, mỗi bộ trông coi một việc. Nhà vua trao cho con gái Thanh Bình công việc thủ kho, trông giữ lương thực và binh sách tại Trại Cung. Công chúa rất chi là tháo vát, đáp ứng kịp thời cho lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân. Nhờ đó, phiến quân đã đánh thắng quân giặc, đem lại hoà bình cho đất nước.

Làm tròn trọng trách, Thạch Tướng quân đã hoá trên núi Phượng Hoàng. Công chúa Thanh Bình được nhân dân mệnh danh nhờ đức tính giản dị và đơn giản, thật thà, công tâm. Tới khi công chúa hoá, hoàng đế cho lập đền thờ, gọi là đền Bà Chúa Kho.

Lịch sử đền bà chúa kho bắc ninh

Theo sử sách lưu lại, đền Bà Chúa Kho có ảnh hưởng đến việc kiện Lý Thường Kiệt chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược vào thời điểm năm 1076. … Tương truyền, Bà Chúa Kho xuất thân từ một hộ dân nghèo khó ở làng Quả Cảm bên gần đó.  được mô tả là đứa con gái cực kỳ xinh

Vài nét về phong cách thiết kế Đền Bà chúa Kho 

Đền thờ Bà Chúa Kho được thành lập từ lâu và được tôn tạo qua nhiều tiến trình. Khảo sát yếu tố hoàn cảnh di tích lịch sử đã cho thấy nhiều tại đền còn khắc ghi dấu ấn văn hoá nhiều thời kỳ. Xung quanh ngôi đền còn rải rác các mảnh vỡ, đầu ngói mũi hài, gạch ngói cũ của thời Lê (thế kỷ XVII-XVIII).

Ông Nguyễn Thế Đoàn, người trông coi đền cho hay: “Vào tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp, đền Bà Chúa Kho bị thiệt hại nặng nề. Tới các năm 1978 – 1980, nhân dân bản địa mới chung tay tu sửa  lại ngôi đền để bảo trì tục thờ Bà Chúa Kho theo truyền thống cổ truyền ở bản địa”.

Tượng Bà chúa Kho1

Đền hiện tại chiếm hữu lối phong cách thiết kế kiểu chữ nhị gồm toà Tiền tế 3 gian và Hậu cung 3 gian. Trên mái đền, các bạn sẽ cảm thấy bức đại tự với dòng chữ Hán đắp nổi: “Chúa Kho từ”, nghĩa là “đền Bà Chúa Kho”. Hai trụ phần bên trước có câu đối viết bằng chữ Hán, ca tụng công lao của công chúa Thanh Bình: “Càn long tốn thuỷ lưu thắng cảnh/ Liệt nữ cao sơn hiển linh từ” (nghĩa là: Phía Tây Bắc có mạch nguồn, phía Đông Nam có làn nước chảy là Vị trí cảnh đẹp. Người nữ oanh liệt được tôn thờ ở ngôi đền linh thiêng trên đỉnh ngọn núi cao).

Những nghi lễ cần hiểu rõ khi “vay vốn ngân hàng” ở Đền bà Chúa Kho 

Tuy vậy chỉ là nghi lễ tâm linh nhưng muốn nguyện ước linh ứng thì phải thật tâm khi “vay vốn ngân hàng” Bà chúa Kho và giữ đúng lời hứa hẹn. Theo ban Quản lý đền, việc “vay” bao nhiêu, lúc nào trả là tùy mọi người. Nhưng có “vay” thì phải có “trả”. Dù cho có công việc làm ăn lãi lời hay thua lỗ thì khi đã hứa với Bà Chúa Kho là trả thì phải giữ đúng lời hứa hẹn. Này cũng chính là chữ “Tín” mà tất cả chúng ta cần tuân thủ trong cuộc đời hiện thực. 

Đền Bà chúa Kho2

Việc sắm lễ của không ít dân cư lúc tới Đền tuyệt vời nhất là tùy tâm. Lễ vật dâng lên Đền bà Chúa Kho rất có thể phong phú. Tuy nhiên bạn cũng cần phải chăm chú các điều đại kỵ. Rõ ràng như sau:

Dâng lễ

  • Lễ chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… Phần lễ chay áp dụng để dâng ban Thánh Mẫu.
  • Lễ mặn: Bạn cũng xuất hiện thể mua đồ chay hình tướng gà, lợn, hoặc áp dụng đồ mặn là thịt lợn, thịt gà,…
  • Lễ đồ sống: Tuyệt đối không sắp đồ lễ sống (trứng, gạo, muối, thịt). Tại các ban quan Ngũ hổ, Bạch xà, Thanh xà ở hạ ban Công Đồng Tứ Phủ.
  • Cỗ Sơn Trang: Bao gồm đặc sản nổi tiếng chay Việt Nam. Để ý là chưa được dùng  cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả…
  • Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa,… Ngoài ra, bạn cũng xuất hiện thể chuẩn bị gương, lược, … Những đồ mã mô phỏng đồ chơi mà họ thường khiến cho trẻ nhỏ dại. Những lễ vật này bé xíu, được gia công cầu kỳ, và được gói trong các túi nhỏ dại đẹp mắt.
  • Lễ thần Thành Hoàng, Thư Điền: Phải cúng đồ chay mới có phúc và các lời cầu nguyện mới được linh ứng.

Hạ lễ

Sau khi dâng lễ và khấn ở các ban thờ. Bạn cần phải đợi hết 1 tuần nhang mới được hạ lễ. Trong lúc đó, dân cư rất có thể viếng thăm cảnh sắc trong Vị trí thờ tự. Thắp hương xong, bạn vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi mới được hạ sớ và hóa vàng. Hoá sớ xong thì hạ lễ, từ ban ngoài cùng vào tới ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ cúng Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ cúng chứ chưa được đem về.

Đền Bà chúa Kho3

Lời kết 

Đền Bà Chúa Kho là trọng tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của không ít dân cư miền Bắc. Đền là Vị trí tổ chức lễ hội truyền thống cổ truyền của nhân dân bản địa vào trong ngày 15 tháng Giêng. Với nhiều nghi lễ và cuộc chơi dân gian mang đậm truyền thống văn hoá dân tộc. Nhân dịp đầu năm, đừng bỏ qua cơ hội tới cầu tiền bạc, may mắn tại đền bạn nhé!

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Đền Bà chúa Kho Bắc Ninh

Review Tham Quan Làng Tranh Đông Hồ Bắc Ninh ở đâu ,làng nghề 2021

lang tranh dong ho

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ Ở ĐÂU?

Tranh dân gian Đông Hồ là nghề làm tranh khắc gỗ dân gian, thuộc ngành nghề Nghề thủ công truyền thống cổ truyền, được toàn cầu dân làng tranh Đông Hồ xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sáng tạo và nâng tầm phát triển từ mấy trăm năm qua, có trị giá về lịch sử, văn hóa truyền thống cổ truyền và nghệ thuật và thẩm mỹ rực rỡ.

Địa điểm :xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)


Phương pháp thủ đô hà nội chừng 33km về phía Đông và tọa lạc sát bờ Nam đê sông Đuống, Làng Tranh Đông Hồ hay Đông Hồ là một làng nghề truyền thống cổ truyền, có tên Nôm là làng Mái nay thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Này là cái nôi của dòng tranh khắc gỗ dân gian rực rỡ được không ít người cả trong và ngoài nước nghe biết, với các bức họa đồ từ lâu đã có thời điểm từng bước vào cuộc sống tinh thần bao cư dân Việt

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)

Từ thủ đô hà nội muốn đi Làng Tranh Đông Hồ, khách tham quan chạy dọc theo Quốc lộ 5 (lối đi Hải Phòng) chừng 15km tới ga Phú Thụy thì rẽ trái, đi tiếp chừng 18 km sẽ tới phố Hồ, huyện lỵ của huyện Thuận Thành. Từ đây rẽ trái đi thêm chừng 2km là tới làng Hồ. Du khách cũng tồn tại thể đi hết phố Hồ rồi lên đê, rẽ trái tới điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ đường vào Đông Hồ.

CHÂN DUNG MỘT LÀNG NGHỀ LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)

Làng Tranh Đông Hồ là một làng nhỏ dại với trên 220 hộ dân cư, sinh sống bằng nghề làm tranh và hàng mã nhiều hơn thế nữa làm nông nghiệp, địa chỉ còn lưu giữ phương pháp làm tranh truyền thống nhất của vùng đất Kinh Bắc.

Ca dao Việt Nam đã có khá nhiều các khắc họa thật sinh động về làng tranh Đông Hồ với bức ảnh một làng quê dung dị tọa lạc nép mình bên con sông Đuống hiền hòa, đặc điểm với các chuẩn mực đạo đức được cổ súy giữ gìn qua bao đời, đã hình thành cung phương pháp ứng xử độc lạ của không ít người làng Mái: trọng danh dự, khí tiết, ăn nói lịch lãm, xấp xỉ thưa gửi cụ thể và hiếm khi trong làng có một số người lớn tiếng chửi mắng nhau…

tranh đông hồ


“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề 

Có ao tắm mát có nghề làm tranh.”

Xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVI, tranh Đông Hồ được dựng nên bằng cách thức thủ công, là kết tinh của việc khéo léo và nhẫn nại, cộng với nghệ thuật và thẩm mỹ thẩm mỹ và nghệ thuật đầy tinh tế và sắc sảo… Đây chưa hẳn là các bức họa đồ được vẽ theo cảm xúc nhưng được in lại qua các bản khắc, và để sở hữu bản khắc đạt tới độ tinh xảo, đòi hỏi ở người vẽ mẫu tương tự như người khắc ván phải có lòng yêu nghệ thuật và thẩm mỹ và chuyên môn kỹ thuật cao.

phòng trưng bày tranh đông hồ

Tranh Đông Hồ có tới 180 loại được chia thành 5 loại chính gồm tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh.Rất có thể nói tiến trình từ nửa thời điểm cuối thế kỷ XIX tới năm 1944 là thời cực thịnh của làng tranh, với 17 dòng họ trong làng đều đăng ký làm tranh. Qua các năm kháng chiến chống Pháp, do cuộc chiến tranh tiêu diệt tàn khốc nên nghề làm tranh cũng tạm bị gián đoạn.

Tới khi độc lập lập lại ở miền Bắc nhất là khi nước nhà thống nhất thì làng tranh mới được khôi phục. Không yêu cầu là qua mấy chục năm nâng cao theo nền kinh tế thị trường và với việc tác động ảnh hưởng của không ít trào lưu nghệ thuật và thẩm mỹ phương Tây, nhận thức và Xu thế cộng đồng cũng tồn tại sự biến hóa đẩy dòng tranh Đông Hồ đối mặt với việc tồn vong của bản thân mình

Hàng năm, từ thời điểm tháng Ba tới tháng Bảy cả làng làm hàng mã, sang tháng Tám tới tháng Chạp lại bon chen mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ tỏa nắng sắc màu của giấy điệp. Nổi biệt làng Hồ có hội vào rằm tháng Ba âm lịch, trong ngày hội làng có các nghi thức truyền thống cổ truyền như tế thần, thi mã, thi tranh rất sung sướng…

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH) SÁNG BỪNG TRÊN GIẤY ĐIỆP…

Trong số các dòng tranh dân gian Việt Nam được nghe biết như Hàng Trống (thủ đô hà nội), Kim Hoàng (thủ đô hà nội – Hà Tây cũ), Đông Hồ (Bắc Ninh), làng Sình (Huế)…, tranh Đông Hồ đặc điểm nhờ gắn sát với làng quê thôn xóm, với cuộc sống bình dị của không ít cư dân nông thôn, không còn xa lạ với toàn cầu cư dân Việt…

Tranh Đông Hồ được in trên giấy Dó, một loại giấy được gia công thủ công từ nhiên liệu là cây Dó mọc trên rừng giống hệt như vỏ cây Bạch đàn. Cây Dó đem về cho vào cối giã nhỏ dại, rây thành bột mịn, tiếp sau đó áp dụng bột này chế biến thành giấy Dó. Do trên nền giấy thường được quét bằng một lớp hồ hoặc nhựa thông có pha loại bột từ vỏ sò Điệp giã nhỏ dại tạo màu sáng lấp lánh nên nói một cách khác là giấy Điệp.

Người làng Hồ đã biết áp dụng, chắt lọc từ các chất liệu thiên nhiên để khởi tạo nên các sắc màu truyền thống cổ truyền vừa tươi vừa có độ màu sắc bền lâu, như màu xanh da trời được chiết suất từ gỉ đồng; màu chàm được chiết suất từ cây lá Chàm ở Thành Phố Lạng Sơn; màu đỏ thắm từ vỏ cây Van

Màu đỏ son từ đá sỏi khai phá trên núi; gold color từ hoa Hòe hay rơm nếp; màu đen từ tro Xoan hay tro cây lá Tre; màu trắng ngà óng tia nắng điệp là vì bởi chất điệp được chế biến từ vỏ ốc hay vỏ sò của vùng biển Quảng Ninh… Này là các màu căn bản, không trộn lẫn và mỗi màu tương xứng với một bản khắc gỗ nên thường tranh Đông Hồ chỉ số lượng giới hạn ở bốn màu.

Riêng đề tài được lấy từ chính cuộc sống, sinh hoạt chế tạo hay khởi nguồn từ triết lý phồn thực, tuy dung dị nhưng cũng không còn xa lạ với sinh hoạt đời thường. Từ các nhân vật trong truyền thuyết hay trong tích truyện, các cảnh đẹp của non sông nước nhà, tới các bức họa đồ mang dấu tích cầu chúc, các sinh hoạt đời thường như “Vinh hoa phú qúy”, “Hái dừa”, “Đánh ghen”, “Mục đồng thổi sáo”, “Đám cưới chuột”…, cục bộ đều hàm chứa các triết lý mang tính nhân văn tinh tế và sắc sảo.

Không cần sử dụng các nguyên lý về tia nắng hay luật cận – viễn của tranh đương đại với bố cục tổng quan nghiêm ngặt về khung hình học, các nghệ sĩ sáng tác tranh dân gian chỉ bằng lối vẽ đơn tuyến bình đồ đã hình thành dòng tranh Đông Hồ mang nhiều tính ước lệ cả trong mô tả lẫn trong bố cục tổng quan, đã đưa người xem tranh lạc vào toàn cầu của không ít nét vẽ ngây ngô, dễ dàng và đơn giản nhưng cũng rất thích thú.

Nổi biệt trên mỗi bức họa đồ, khi nào nghệ nhân cũng đề một trong những chữ Hán hoặc chữ Nôm (thời xưa) hay câu thơ lãng mạn, tình tứ (ngày nay) càng làm cho tranh thêm đậm đà ý vị…

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH) TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

Tranh Đông Hồ khá thân mật và gần gũi với cuộc sống nông thôn vùng đồng bằng trung du sông Hồng và các tỉnh, thành phía Bắc, bức ảnh của chính bản thân nó đã có thời điểm từng bước vào thơ, văn và có cả trong chương trình học. Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”, nhà thơ Hoàng Cầm đã làm choàng lên hồn dân tộc trong nghệ thuật và thẩm mỹ tranh dân gian Đông Hồ:

“Tranh Đông Hồ Gà, Lợn nét tươi trong,
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy Điệp.”

Nhà thơ Tú Xương có thêm mấy dòng minh họa tranh Đông Hồ khá hóm hỉnh:

“Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo Chuột, 
Lòe loẹt trên vách bức họa đồ Gà.”

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)1


Điều này đã nói lên mối đối sánh giữa tranh Đông Hồ với không khí ngày Xuân trong cuộc sống nông thôn. Trước kia tranh Đông Hồ được gia công ra chủ đạo đáp ứng cho dịp tết Nguyên đán, cư dân nông thôn mua tranh về dán trên tường để bày diễn trang trí trong mùa tống tiễn năm cũ và chào đón tết, hết năm lại lột bỏ và thay bằng tranh mới.

Thú chơi tranh ngày ấy thật thâm trầm, tao nhã khi các ước mong về 1 năm mới tốt nhất đẹp được người chơi tranh ý nhị gởi gắm vào nội dung bức họa đồ mình chọn mua.Đông Hồ có chợ tranh sống động vào tháng Chạp với năm phiên chợ vào các ngày 6, 11, 16, 21, 26.

Mới tờ mờ sáng dòng người khắp địa chỉ đã đổ về làng Hồ sống động như trẩy hội. Có không ít người tới để giao thương tranh nhưng cũng quá nhiều người tới chỉ để thỏa trí tò mò hay muốn thưởng lãm tranh Đông Hồ. Nhiều người không quản ngại đường xa đã lặn lội về đây với tâm niệm ngày Tết có một trong những bức họa đồ Đông Hồ treo ở nhà thì coi như năm đó hộ dân cư sẽ yên ấm, gặp nhiều may mắn, công việc làm ăn sung túc…

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)2

Những đứa con làng Hồ đi đâu cũng nhớ tới câu ca dao:

“Dù ai kinh doanh trăm nghề,
Nhớ tới tháng Chạp thì về buôn tranh”.

Mỗi năm đã có khá nhiều hàng vạn bức họa đồ được đẩy ra, sau phiên chợ tranh sau cùng, các hộ dân cư nào còn sót lại tranh đều bọc kín đem cất chờ tới mùa tranh năm sau lại đem ra chợ tranh bán.

Tranh làng Hồ đã được không ít người coi như đặc sản nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Không chỉ có một số người thủ đô hà nội và dân một số trong những tỉnh thành nội địa ăn chơi sành điệu, yêu dấu tranh Tết Ðông Hồ về tham quan khảo sát và chọn mua, mà hoàn toàn không ít khách tham quan, những người dân trong ngành nghề hội họa, thẩm mỹ và nghệ thuật và làm xinh của nước ngoài cũng tới để nghiên cứu về nghệ thuật và thẩm mỹ tranh dân gian đình đám của làng Hồ.

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)3

CẦN LẮM NHỮNG NGƯỜI GIỮ LỬA LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ (BẮC NINH)

Sau khi độc lập lập lại vào thời điểm năm 1954, làng tranh Đông Hồ đã được khôi phục, nhiều tổ hợp tác chế tạo được thành lập. Này là thời gian tranh Đông Hồ được xuất khẩu sang các nước cộng đồng chủ nghĩa.

Trong các năm 1985 –  1990, do tác động ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và việc biến hóa cơ chế chính trị ở các nước Đông Âu, việc xuất khẩu tranh gặp nhiều nan giải đang khi thị hiếu thẩm mỹ và nghệ thuật của không ít cư dân cũng tồn tại nhiều chuyển biến trước các du nhập quá mới lạ từ các nước phương Tây.Do không tìm kiếm được đầu ra cho tranh mà phần nhiều cả làng đều chuyển qua làm hàng mã để sinh sống.

Phải công nhận nghề vàng mã đã tạo công ăn công việc đáng kể cho mọi cá nhân, từ người già tới trẻ con đều phải sở hữu thể tận dụng các lúc rảnh rỗi để dự chế tạo. Cũng nhờ nghề vàng mã nâng tầm phát triển mà kinh tế người làng Hồ khấm khá hơn, cuộc sống cư dân đã có khá nhiều nhiều biến hóa, các căn nhà tranh vách đất cũ kỹ đã được thay bằng các căn nhà cao tầng liền kề hiện đại…

nghệ nhân đông hồ

Đã có rất nhiều rất đôi lúc tưởng chừng như một dòng tranh dân gian đình đám với bề dày lịch sử đang dần bị mai một, mặc dù với lòng yêu nghề của nhiều nghệ nhân trong số đó phải nói tới hộ dân cư các ông Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam mà nghề làm tranh Đông Hồ đã được khôi phục với sắc diện và vận khí mới. Trong nỗ lực cố gắng làm sống lại nghề tranh Đông Hồ, ông Chế đã chuyển động con cái góp sức thành lập “Trung tâm giao lưu văn hóa truyền thống cổ truyền dân gian tranh Đông Hồ” rộng tới 5.500m².

Trung tâm đã hình thành được 1 khoảng không văn hóa truyền thống cổ truyền độc lạ, biến thành địa chỉ đã không còn gì thiếu nếu như với các tour du lịch làng nghề. Mỗi năm trọng tâm đã đón hàng trăm nghìn lượt khách cả trong và ngoài nước tới tham quan khảo sát và mua dòng sản phẩm.

1 trong các các điều làm khách tham quan rất chi là yêu thích là được chỉ dẫn để tự tay làm ra dòng sản phẩm tranh Đông Hồ.Thời may, nhờ ít người còn tha thiết với công việc tranh nên tranh của hộ dân cư hai ông làm ra đều bán tốt, nhiều lúc cũng tồn tại khách tham quan nước ngoài tới hỏi mua tranh. Thu nhập nhờ này cũng tạm ổn cứu họ lại có động lực liên tục giữ gìn và nâng tầm phát triển nghề truyền thống cổ truyền.

nghệ nhân đông hồ

Điểm đáng vui là sau một khoảng thời gian đuổi theo luồng tranh “cao cấp”, nhiều bạn cũng kịp nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong sự mộc mạc đơn giản và giản dị của tranh dân gian và quay trở về với cái thú chơi và treo tranh Đông Hồ, nhất là trong các ngày Tết.

Hy vọng cùng với việc tỉnh Bắc Ninh thành lập hồ sơ ứng cử đất nước cho nghề tranh Đông Hồ để đệ trinh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa truyền thống cổ truyền Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận di sản văn hóa truyền thống cổ truyền toàn cầu, sự may mắn sẽ lại mỉm cười với làng tranh Đông Hồ để tranh Đông Hồ giữ mãi nét tươi trong và sáng bừng trên giấy Điệp…

Chuyên Mục: Review Bắc Ninh

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Làng Tranh Đông Hồ | Du lịch Thuận Thành