Review Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng rộ ở đâu,check in 2022

Vuon hoa cuc chi Hung Yen 14

Khi cái lạnh tìm tới miền Bắc cũng chính là thời gian vào mùa nở rộ của rất nhiều vụ hoa. “sát xịt” thủ đô lại được nhuộm một màu vàng như màu nắng bởi vườn hoa cúc chi bạt ngàn. Nhanh cùng mình tìm hiểu vườn hoa cúc chi Hưng Yên bùng cháy rực rỡ này nhé!

Vườn hoa cúc chi Hưng Yên ở đâu?

Vườn hoa cúc chi vàng rực đã làm mưa làm gió trong các hội nhóm du lịch năm ngoái tọa lạc ở thôn Nghĩa Trai, tỉnh Hưng Yên, cách thức thành phố TP. hà Nội chưa đầy 30km.

Hoa cúc chi, hay nói một cách khác là hoa kim cúc, hoàng cúc. Là “đặc sản nổi tiếng” của vùng đất phố Hiến mỗi dịp cái lạnh ùa về miền Bắc. Từ nội thành TP. hà Nội bạn cũng tồn tại thể chạy mô tô chưa đầy 1 tiếng đồng hồ thời trang đeo tay là rất có thể tới được đây rồi.

Vườn hoa cúc chi Hưng Yên vào các ngày thời điểm cuối năm đang thì nở rộ, vàng rực như ngầm báo hiệu mùa xuân căng tràn nhựa sống đang khẽ khàng gõ cửa. Làm bừng sáng cả một vùng quê vốn đỗi phẳng lặng và thơ mộng.

Hoa cúc chi còn tồn ở một tên thường gọi cao cả khác đây chính là “cúc tiến vua’. Do tại “cúc tiến vua” khác với cúc họa mi TP. hà Nội sử dụng để trưng, để ngắm. Cúc chi vàng được trồng chủ đạo để triển khai trà, làm thuốc.

Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng

Trước kia, loài hoa bé dại vàng mảnh khảnh đó được chuyên trồng làm dược liệu dâng vua. Với công dụng thanh nhiệt, giải độc, cứu khung hình thư thái. Chính vì vậy mà loài hoa có không ít công dụng cho sức mạnh đó được dâng lên để tiến vua.
 Những luống cúc chi vàng rực.

  • Địa chỉ: Vườn hoa cúc chi Hưng Yên, thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

 


Phương pháp để đi đến vườn hoa cúc chi Hưng Yên?

Vườn hoa cúc chi Hưng Yên chỉ cách thức TP. hà Nội chưa đầy 30km nên từ giữa trung tâm thành phố, khách tham quan đi ngang cầu Vĩnh Tuy tới Quốc lộ 5, đến thị trấn Như Quỳnh, rẽ chợ Như Quỳnh, Văn Lâm khoảng 2 km là đến cánh đồng hoa cúc thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng1



Thời điểm lý tưởng để ghé qua vườn hoa cúc chi Hưng Yên?

Trong các năm mới đây, vườn hoa cúc chi Hưng Yên là một điểm kiểm tra in sáng giá mỗi dịp gió rét về của dân Hà thành. 

Hoa cúc chi được trồng vào thời gian tháng năm – tháng sáu hằng năm. Cứ mỗi dịp giáp Tết dương lịch, nhất là thời gian từ thời điểm tháng 11 đến tháng 12. Những nụ hoa cúc chi đang ngủ vùi lại vươn mình khoe sắc. Nhuộm vàng rực cả một vùng thôn quê tĩnh lặng.

Người dân thôn Nghĩa Trai trồng cúc tiến vua để triển khai dược liệu nên cây được chăm bón rất cẩn thận. Cánh đồng hoa được chia thành nhiều luống thẳng hàng lối, nên nhìn từ xa như một thảm vàng rực trải dài hút mắt.
 Tạo vẻ bên vườn hoa cúc chi Hưng Yên

Những nụ cúc thấp thoáng trong sắc xanh của màu lá nay đã chuyển mình thành các chùm hoa tròn xoe.

Bông nào bông đấy đều nở bung trong hơi thở của điều kiện thời tiết trên thân cây thanh mảnh, nhẹ dịu. Cũng như các mặt trời tí hon tỏa sáng bùng cháy rực rỡ. Nhìn từ xa tựa hồ 1 tấm chăn dát vàng trải dài ngút ngàn của một góc trời. Khiến khách đường xa không khỏi nao lòng, mê mẩn.

Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng2

Vài nét về vườn hoa cúc chi Hưng Yên

Hoa cúc chi, hay nói một cách khác là hoa kim cúc, hoàng cúc. Là “đặc sản nổi tiếng” của vùng đất phố Hiến mỗi dịp cái lạnh ùa về miền Bắc. Phương pháp TP. hà Nội chưa đầy 1 tiếng chạy xe, vườn hoa cúc chi Hưng Yên dưới hơi thở của gió rét có dấu hiệu rục rịch vươn mình tỉnh giấc, nhuộm một màu vàng ươm, thơm dịu nhẹ. Làm xao xuyến cả một vùng thôn quê tĩnh lặng

Khác với cúc họa mi TP. hà Nội sử dụng để trưng, để ngắm. Cúc chi vàng được trồng chủ đạo để triển khai trà, làm thuốc. Trước kia, loài hoa bé dại vàng mảnh khảnh đó được chuyên trồng làm dược liệu dâng vua. Với công dụng thanh nhiệt, giải độc, cứu khung hình thư thái. Chính vì vậy, hoa còn sống sót tên cúc tiến vua.

Từ hàng ngàn năm về trước, dân cư Hưng Yên đã trồng cúc chi. Bên cạnh nhiều cây thuốc quý khác. Có công dụng như một loại thảo dược chăm bẵm sức mạnh con người. Cúc chi phủ kín một vùng thôn quê và được nâng niu, trân trọng.

Mùa hoa cúc chi đã điểm 

Bên cạnh nhãn lồng, vườn hoa cúc chi Hưng Yên đã xuất ngày này đây khá lâu. Nhưng ít năm đổ lại đây, cánh đồng hoa dược liệu này mới được dân tình xác định. Và biến thành điểm checkin sáng giá mỗi dịp gió rét về của dân Hà thành.

Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng3

Cứ mỗi dịp giáp Tết, nhất là thời gian từ thời điểm tháng 11 đến tháng 12. Những nụ hoa cúc chi đang ngủ vùi lại vươn mình khoe sắc. Nhuộm vàng rực cả một vùng thôn quê tĩnh lặng. Những nụ cúc thấp thoáng trong sắc xanh của màu lá nay đã chuyển mình thành các chùm hoa tròn xoe.

Bông nào bông đấy đều nở bung trong hơi thở của điều kiện thời tiết trên thân cây thanh mảnh, nhẹ dịu. Cũng như các mặt trời tí hon tỏa sáng bùng cháy rực rỡ. Nhìn từ xa tựa hồ 1 tấm chăn rát vàng trải dài ngút ngàn của một góc trời. Khiến khách đường xa không khỏi nao lòng, mê mẩn.

Đến vườn hoa cúc chi, bạn không riêng gì được chiêm ngưỡng cánh đồng hoa bạt ngàn đều tăm tắp đẹp hút mắt. Mà còn được cảm nhận thấy không khí sôi động vụ thu hoạch cúc chi giữa chốn thôn quê yên ả. Người nào người lấy đều ẵm trên tay các rổ cúc chi vàng ươm, nặng trĩu. Chuẩn bị được phơi khô, hấp sấy để triển khai trà đón xuân.

Check in vườn hoa cúc chi Hưng Yên – “Chân ái” của giáo đồ mê sống ảo

Tới với vườn hoa cúc chi Hưng Yên bạn tha hồ kiểm tra in và chụp các bức họa đồ mãn nhãn. Chẳng cần tạo vẻ cầu kỳ, bạn chỉ cần đứng vào một trong những góc là đã có khá nhiều vô vàn hình ảnh đẹp rồi.

Cúc chi khoe sắc báo hiệu tiết trời xuân sang

Hoa cúc chi là một loài hoa mộc mạc, đơn giản và giản dị, bé chỉ bằng cúc áo, trông như các “mặt trời tí hon” dưới bề mặt đất, đủ khả năng “quyến rũ” bao người. Chỉ cần diện một bộ quần áo giản đơn, tạo vẻ nhẹ dịu lên cánh đồng hoa cúc chi vàng rực là bạn đã có khá nhiều được 1 “concept” hoàn hảo nhất rồi.

Du lịch Hưng Yên, ghé qua vườn cúc chi vàng rực thì ngoài kiểm tra in sống ảo bạn còn sống sót thể có thêm các tham gia trải nghiệm thích thú khác.

Không chỉ được chiêm ngưỡng cánh đồng hoa bạt ngàn đều tăm tắp đẹp hút mắt mà còn được cảm nhận thấy không khí sôi động vụ thu hoạch cúc chi giữa chốn thôn quê yên ả. Người nào người nấy đều ẵm trên tay các rổ cúc chi vàng ươm, nặng trĩu. Chuẩn bị được phơi khô, hấp sấy để triển khai trà đón xuân.
 Cúc chi khoe sắc báo hiệu tiết trời xuân sang. Bức ảnh: Nguyễn Tùng Dương

Để ý trước khi ghé vườn hoa cúc chi

Những ngày tháng 11, tháng 12, khi Tết Dương lịch sắp đến gần cũng chính là ngày thu hoạch đỉnh cao của cúc tiến vua. Mỗi đợt thu hoạch sẽ chia thành hai đợt và cách thức nhau một tháng. Ghé thăm vườn cúc, bạn cũng tồn tại thể trải nghiệm thu sát hoạch hoạch cúc cùng dân cư. Mỗi 1 kg cúc chi để được trả 10 nghìn. Cũng chính là một tham gia trải nghiệm thích thú và đáng nhớ.

Ngoài ra, khi đến thăm vườn cúc, tất cả chúng ta né chen nhau, dẫm đạp. Tùy tiện hái hoa, bẻ cảnh. Hay xả rác nhé. Ai muốn hái hoa thì hỏi trước chủ vườn. Vì là hoa thuốc, được dân cư làng nâng niu, trân trọng. Nên khách đường xa chăm chú một chút ít nhé.

Tham quan vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng4

Những ngày thời điểm cuối năm, vườn hoa cúc chi Hưng Yên lại nhuộm vàng rực cả một góc trời. Cuối tuần thảnh thơi, cùng mình “phượt” ngắn một chuyến về phố Hiến. Thả mình vào thiên nhiên đất trời và “cháy máy” bên cánh đồng cúc chi trải dài ngút ngàn này nhé!

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Checkin vườn hoa cúc chi Hưng Yên vàng rộ một vùng trời

Review Tham Quan phố Hiến Hưng Yên ở đâu,có gì,ăn gì 2022

kien truc co tai pho hien hung yen

“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” là câu nói rất kinh khủng để xác khẳng định thế của địa điểm phố Hiến Hưng Yên mờ mịt thuở nào. Ngày nay bóng hình về một thương cảng đình đám sôi động người sử dụng kẻ bán không thể nhưng các kinh phí về văn hóa truyền thống cổ truyền và phong cách thiết kế vẫn luôn luôn được bảo tồn nguyên vẹn. 

Phố Hiến ở đâu?

Phố Hiến là một địa điểm lịch sử đình đám tọa lạc trên hai phường Lam Sơn và Hồng Châu, Thành phố Hưng Yên. Khu phố trải rộng khoảng 5km2, được dựng nên từ khoảng thế kỷ XIII và nâng tầm phát triển thành một thương cảng mờ mịt, sống động nhất cả nước vào thế kỷ XVII – XVIII. 

Phố Hiến Hưng Yên

Vào tiến trình nâng tầm phát triển cực thịnh, phố Hiến Hưng Yên là giữa trung tâm mua bán, kinh doanh với nhiều đất nước như: Trung Quốc, Pháp, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Anh,… Theo ước tính đã có nhiều khoảng 2000 căn nhà được thành lập và dựng nên khoảng hơn 20 phường để triển khai ăn, kinh doanh. 

Trải qua các chuyển đổi thăng trầm của lịch sử, phố Hiến ngày nay chỉ còn sót lại các kinh phí văn hóa truyền thống cổ truyền, các công trình xây dựng cổ, các kho tượng Phật nghìn năm. Ký ức về  một thương cảng mờ mịt vang bóng thuở nào đã trôi vào dĩ vãng. Phố Hiến ngày nay đình đám với các công trình xây dựng cổ 

Tới Phố Hiến không chỉ vấn đề được tham quan các phong cách thiết kế cổ thì khách du lịch còn sinh tồn cơ hội được thưởng thức nhiều đồ ăn ngon của Hưng Yên như: nhãn lồng, bún thang lươn, chả gà Tiểu Quan,… Mùi vị đồ ăn ở đây chắc chắc khiến khách du lịch xuýt xoa không ngừng nghỉ. 

Phố Hiến Hưng Yên 1

Thời điểm xinh tuyệt đối nhất để du lịch Phố Hiến Hưng Yên

Tháng 2 – tháng ba âm lịch hàng năm là thời gian của lễ hội địa điểm đây. Tháng 7 là tháng của nhãn lồng, vì Hưng Yên vào trong ngày thu hoạch. Chính bởi vậy tất cả chúng ta nhớ đi tham quan vào 2 thời gian này để được ký dánh vào các hoạt động sinh hoạt cực kì rực rỡ địa điểm đây. Ngoài việc ăn nhãn thưởng thức nhãn chụp ảnh với nhãn.

Chúng ta còn được chiêm ngưỡng hoa sen đua nở khắp địa điểm. Đây củng là thời gian các thánh săn hình ảnh tìm tới đây chụp chọec kiểm tra in các kiểu. Từ thời điểm tháng tám – tháng 11 ở Hưng Yên thường xuyên có mưa, nên tiêu giảm đi du lịch vào thời gian này.

Phố Hiến Hưng Yên2

Đôi điều về Phố Hiến xưa và nay



Xưa kia, vùng đất này tọa lạc bên tả ngạn sông Hồng, là một TP nâng tầm phát triển ở thế kỷ 15, cực thịnh vào thế kỷ 17. Lúc này, chính là giữa trung tâm mua bán với nhiều đất nước trên trái đất như: Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha… Người dân quần tụ khoảng 2000 căn nhà và đã tạo nên trên 20 phường công việc làm ăn, kinh doanh.

– Trải qua các tiến trình lịch sử và sự biến đổi của bỗng nhiên, sông Hồng càng ngày càng lùi xa, địa điểm đây nhường dần chỗ đứng thương cảng cho Hải Phòng, mà giữ lại cho bản thân mình các kinh phí truyền thống cổ truyền lâu năm.

Phố Hiến ngày nay đã biến đổi thành địa điểm giữa trung tâm của Thành phố Hưng Yên năng động, và vẫn còn gìn giữ được các Quần thể di tích lịch sử lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền có kinh phí cao, với 128 di tích lịch sử được bảo tồn, cùng hàng ngàn bia ký, hàng trăm cổ vật quý có từ triều đại nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê và nhà Nguyễn… Năm 2014, khu di tích lịch sử Phố Hiến đã được Chính phủ công nhận là Di tích đất nước đặc biệt.

Tham Quan phố Hiến Hưng Yên

Di chuyển tới phố Hiến Hưng Yên như thế nào? 

Phố Hiến Hưng Yên phương thức thủ đô thủ đô tầm 60km. Để tới đây khách du lịch rất có thể áp dụng các phương tiện đi lại như xe buýt, ôtô, xe gắn máy. Nếu vận động và di chuyển xe gắn máy thì từ thủ đô bạn đi theo đường số 5 tới Phố Nối, rẽ vào đường 39A để tới thành phố Hưng Yên, liên tiếp dịch rời vào nội thành để tới Phố Hiến. Phố Hiến phương thức giữa trung tâm Thủ đô 60km

Vẻ đẹp phố Hiến Hưng Yên 

Xưa kia, phố Hiến Hưng Yên được ca ngợi là “tiểu Tràng An”, địa điểm sôi động người sử dụng kẻ bán, là thương cảng lớn của miền Bắc. Thế nhưng ngày nay khi trở về Phố Hiến, khách du lịch sẽ cảm nhận được 1 vẻ đẹp không giống, bình yên, mộc mạc và hoài cổ rất chi là. Địa điểm đây chiếm hữu quần thể phong cách thiết kế khác biệt, các di thích lịch sử lâu năm và nét văn hóa truyền thống cổ truyền truyền thống cổ truyền không lẫn vào đâu được. 

Phố Hiến Hưng Yên đặc biệt với các hàng cây trồng mát, các ao nước miên man và vùng trời xanh thẳm. Du lịch tới đây khách du lịch để được tận thưởng một không khí miền quê yên tĩnh đúng nghĩa, không tất bật, náo nhiệt như phố xá ngoài kia. Đây là được ngồi ngơ ngẩn trước vẻ đẹp thơ mộng của hồ Bán Nguyệt, là được thả diều trên các cánh đồng lớn và tọa lạc thư giãn bên các cây nhãn lồng cổ vài trăm năm tuổi. 

Hệ thống phong cách thiết kế ở Phố Hiến không riêng gì mang đậm phong phương thức truyền thống cổ truyền Việt mà còn sinh tồn sự giao thoa, phối hợp sắc sảo với phong cách thiết kế phương Tây và Á Đông. Tới đây, khách du lịch để được chiêm ngưỡng các đường nét sắc sảo, các hoa văn cầu kỳ được chạm khắc tỉ mỉ mang ý nghĩa thẩm mỹ cao.

Con người và thiên nhiên tại phố Hiến Hưng Yên sẽ luôn chào tiếp đón khách tham quan tới tham quan, mày mò bằng thái độ thân thiết và chân thành nhất. Dạo quanh làng quê ở Phố Hiến, khách du lịch sẽ đơn giản và dễ dàng kiếm được các dư vị bình yên, thanh thản trong con tim. 

Phố Hiến Hưng Yên3

Về sự ra mắt của Phố Hiến.  

Đến lúc này, chưa tồn tại đủ dữ kiện để cam đoan đúng cách dán niên đại ra mắt của Phố Hiến. Song bằng các tư liệu qua nghiên cứu sử sách, bia ký, khảo cổ và điều tra khảo sát thực địa, các nhà khoa học đều nhận định rằng: Ngay từ thế kỷ thứ 10, vùng Đằng Châu, phường Lam Sơn ngày nay vốn dĩ là một lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ tới thời Tiền Lê là thực ấp của Lý Công Uẩn. 

Thế kỷ 13, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên diệt Tống, một trong những kiều dân Trung Quốc tị nạn đã nâng sang Việt Nam, lập nên làng Hoa Dương. Cùng khi đó, một trong những người Việt từ nhiều bản địa khác biệt cũng dần dần tới sinh sống tại địa chỉ tụ cư này để kinh doanh và công việc làm ăn.

Có khá nhiều kỹ năng là tên thường gọi Phố Hiến lần thứ nhất có mặt vào thời gian cuối thế kỷ 15 trong công cuộc cải phương thức hành chính của vua Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, phải tới thế kỷ 17, Phố Hiến mới biến thành một giữa trung tâm chính trị – kinh tế có rất nhiều mối giao lưu quốc tế.

Hiện nay, ở Phố Hiến có lị sở của trấn thủ xứ Sơn Nam, ty Hiến sát xứ Sơn Nam, các trạm tuần ty trấn áp thuyền bè trong ngoài nước, một đoạn sông sôi động các thuyền bè đi lại và đỗ bến, các chợ phố đông đúc, các thợ thủ công và thương nhân người Việt, người Trung Quốc, Nhật Bản và phương Tây như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan…   Phố Hiến xưa tọa lạc cạnh bên bờ tả ngạn sông Hồng, nhưng do phù sa bồi đắp nên ngày nay đã ở phương thức con sông khoảng chừng 2 km. Theo đường sông, Phố Hiến phương thức thủ đô 55 km.

Phố Hiến Hưng Yên4

Trước đây từ Thăng Long xuôi thuyền xuống Phố Hiến mất khoảng 2 ngày, ngược dòng lên Kinh đô mất 3 ngày. Chỗ đứng của Phố Hiến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tuyến giao thông đường thuỷ thuộc hệ thống sông Hồng-sông Thái Bình tọa lạc trong vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Những nhà địa chất chia châu thổ Bắc Bộ thành 3 vùng, tương xứng với ba thời kỳ kiến tạo lớn: Thượng châu thổ với đỉnh của rất nhiều triền sông là Việt Trì;

Trung châu thổ với đỉnh là Cổ Loa; và Hạ châu thổ với đỉnh là Phố Hiến, từ đó các nhánh sông trải ra vùng đồng bằng trung du như những cái nan quạt. Bằng đường thuỷ, từ Phố Hiến rất có thể gọi điện liên lạc đến phần nhiều các bản địa thuộc các trấn Sơn Nam, Thành Phố Hải Dương, An Quảng.

Phố Hiến là địa điểm trung chuyển, cửa ngõ án ngữ hoặc thông thương của mọi tuyến mua bán đường sông từ vùng biển Bắc Bộ đi sâu vào đất liền đến Kinh thành Thăng Long, qua các tuyến sông Đáy, sông Hồng, sông Thái Bình.  

Song song với các tuyến mua bán đường sông, các tuyến mua bán ven bờ biển đã gắn liền Phố Hiến với các thị trường xa hơn. Từ thời nhà Trần, các thương nhân người Hoa ở Xích Đằng đã có nhiều các mối contact với các cảng Hội Triều (Thanh Hoá), Càn Hải và Hội Thống (Nghệ An). Thế kỷ 17-18, các mối quan hệ kinh tế giữa Phố Hiến và vùng Sơn Nam với các phố cảng Đàng Trong thông qua các khách buôn nước ngoài càng được tăng nhanh, như các bến đò Phục Lễ, Phù Thạch, Thanh Hà (Thuận Hoá), Hội An.

Phố Hiến Hưng Yên 5

Qua hai hệ thống sông Đàng Ngoài và sông Đáy, Phố Hiến còn bắt nhịp với các tuyến mua bán quốc tế ở biển Đông, như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, tương tự như với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…

Đặc sản nổi tiếng Phố Hiến Hưng Yên



Xứ này còn có đặc sản nổi tiếng đình đám cả nước là nhãn lồng (gọi là nhãn lồng vì cây nhãn có nhiều quả, người ta phải làm lồng để đảm bảo). Nhãn lồng cùi dày, vỏ mỏng mảnh, hạt nhỏ dại, ăn vừa ngọt vừa ngon. Xưa kia nhãn lồng địa điểm đây đã được chọn để tiến vua. Cây nhãn Tổ có từ thế kỷ thứ 16, tới thời điểm này vẫn rậm rạp cành cây.

Thăm chợ Phố Hiến Hưng Yên, khách du lịch còn sinh tồn dịp thưởng thức các món ngon và sản vật bản địa như: sen Hồng Nam, cam Bảo Châu, chè sen, long nhãn, kẹo lạc Sỉu Châu, bún thang… Ngoài ra, tại hồ bán nguyệt ở khu giữa trung tâm cũng tồn tại bày bán các đồ ăn vặt thướt tha, cảnh quan lại hữu tình, yên ả.

Phố Hiến Hưng Yên6

Những công trình xây dựng phong cách thiết kế đặc biệt tại phố Hiến 

Xuôi theo dòng chảy thời hạn của lịch sự, phố Hiến Hưng Yên ngày nay vẫn còn lưu giữ quần thể phong cách thiết kế cổ với trên 60 di tích lịch sử lịch sử, 100 bia ký và không ít đền chùa, đình miếu. Trong đó đền Mẫu, văn miếu Xích Đằng, hồ Bán Nguyệt, chùa Chuông là các điểm đến chọn lựa đặc biệt nhất. 

Văn miếu xích đằng 

Văn miếu Xích Đằng là khu du lịch đình đám nhất tại phố Hiến Hưng Yên được thành lập từ thời điểm đầu thế kỷ XVII. Xưa kia, chính là địa điểm giới thiệu các kỳ thi hương, đề cao cho trí tuệ và tinh thần hiếu học của rất nhiều cư dân bản địa. Nét cổ kính của văn miếu có vẻ vẫn được bảo tồn nguyên vẹn sau gần 400 năm. 

Phố Hiến Hưng Yên7

Hiện Văn miếu Xích Đằng đang lưu giữ một trong những hiện vật quý trong số đó 9 tấm bia đá vinh danh 161 vị đỗ đại khoa của trấn Sơn Nam xưa được đánh giá như có kinh phí lớn nhất. Đấy là các tác phẩm thẩm mỹ được chạm khắc hoa văn hình rồng, lưỡng long chầu nguyệt, kỳ lân khá tinh xảo và tỉ mỉ tới từng rõ ràng và cụ thể. 

Ngày nay, văn miếu Xích Đằng vẫn luôn là niềm tự hào của rất nhiều cư dân Hưng Yên và biến thành khu du lịch văn hóa truyền thống cổ truyền hấp dẫn phần lớn khách du lịch tới tham quan. Ngày nay địa điểm chính là khu du lịch văn hóa truyền thống cổ truyền đình đám tại Phố Hiến Hưng Yên

Đền Mẫu

Đền Mẫu là khu du lịch tâm linh khá đình đám tại phố Hiến, hàng năm địa điểm đây đón nhiều lượt khách tham quan tới tham quan, chiêm bái. Đền được thành lập vào thời điểm năm 1278 và hiện tọa lạc tại đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên.

Phố Hiến Hưng Yên 8

Đền Mẫu là địa điểm thờ bà Dương Quý Phi, vị hoàng hậu sau cuối của triều Tống (Trung Quốc). Đây được đánh giá như điểm không giống nhau hiếm cảm nhận trong các ngôi đền của rất nhiều người Việt biểu hiện tình hữu nghị của nhân dân 2 nước Việt – Trung. Ngôi đền thờ bà Dương Quý Phi

Ngôi đền có khoảng trống và phong cách thiết kế điểm không giống nhau ẩn mình dưới bóng ba cây cổ thụ hơn 700 năm tuổi soi bóng bên hồ Bán Nguyệt thơ mộng. Vào 1990, đền Mẫu được Bộ Văn hóa truyền thống cổ truyền Thông tin công nhận là di tích lịch sử “phong cách thiết kế thẩm mỹ”. Đền đã được công nhận là di tích lịch sử “phong cách thiết kế thẩm mỹ” 

Tới đây, khách du lịch không riêng gì được chiêm bái, cầu nguyện, giãi bày ước vọng mà còn được thưởng thức cảnh quan yên tĩnh và phong cách thiết kế cổ kính. Nổi trội vào dịp đầu xuân năm mới, đền Mẫu là địa điểm giới thiệu nhiều lễ hội truyền thống cổ truyền hấp dẫn rất nhiều du khách du lịch tìm về. 

Phố Hiến Hưng Yên9

Chùa chuông 

Chùa Chuông là một trong các các di tích lịch sử đặc biệt trong quần thể phong cách thiết kế tại Phố Hiến Hưng Yên. Chùa được thành lập từ thế kỷ XV và từng được ca ngợi là “Phố Hiến đệ nhất danh lam” vào thời nhà Lê. Chùa chuông đã thông qua không ít lần trùng tu nhưng nét phong cách thiết kế thẩm mỹ cổ vẫn luôn luôn được bảo tồn. 

Ngoài phong cách thiết kế đẹp chùa Chuông còn là địa điểm lưu giữ nhiều hiện vật có kinh phí lịch sử như: câu đối, hoành phi,… đặc biệt đã hết không nói tới tấm bia đá “Kim Chung Tự thạch bi ký” được hình thành vào thời điểm năm 1711. Trên bia được khắc tên những người dân có công đức tu sửa chùa và mô tả vẻ đẹp phố phường của phố Hiến thời xưa. Những pho tượng Phật được lưu giữ tại chùa Chuông

Với bề dày lịch sử lâu năm cùng hệ thống các pho tượng cổ, hiện vật quý giá, chùa Chuông đã biến đổi thành một điểm tham gây được sự chú ý linh thướt tha hạng sang phố Hiến.Du khách đổ về chùa Chuông để dâng hương, cầu nguyện

Phố Hiến Hưng Yên 10

Lễ hội dân gian tại phố Hiến Hưng Yên 

Cứ vào tháng ba âm lịch hàng năm tại phố Hiến Hưng Yên sẽ giới thiệu các lễ hội văn hóa truyền thống cổ truyền dân gian được tổ chức mô hình với việc ký dánh của dân cư 12 xã, phường trên toàn thành phố cùng hàng vạn lượt khách du lịch từ mọi miền nước nhà tới tham gia. 

Lễ hội tại phố Hiến được giới thiệu vào tháng ba âm lịch hàng năm

Phần lễ được giới thiệu thướt tha với các hoạt động sinh hoạt rước kiệu vi hành qua nhiều tuyến phố chính và các đền chùa, miếu tại Phố Hiến. Phần rước kiệu

Phần hội giới thiệu sôi nổi với các game show dân gian như: chọi gà, đua thuyền, thả đèn trời, kéo co, hát đối, đi cầu kiều,… Toàn bộ như muốn tái hiện lại sự mờ mịt, sống động của phố Hiến hưng thịnh thuở nào.

Phố Hiến Hưng Yên11


Trải qua biết bao năm tháng phố Hiến Hưng Yên ngày nay luôn là một địa điểm lịch sử cất giữ các kinh phí văn hóa truyền thống cổ truyền lâu năm. Trong chuyến hành trình du lịch Hưng Yên thì phố Hiến hứa hẹn được xem là điểm nghỉ chân thích thú mở ra các cung bậc cảm hứng hoài niệm và an yên cho khách du lịch. 

Ăn gì khi du lịch Phố Hiến Hưng Yên?

Bánh răng bừa Phụng Cưa

Với nguyên vật liệu rất chi là giản dị và đơn giản như: thịt, mộc nhĩ, đỗ xanh, hành… Nhưng điểm nổi bật của đồ ăn là phải do cư dân Văn Giang, Hưng Yên chế biến mới thành công. Họ có bí quyết làm nó thành một đồ ăn dẻo thơm ăn mãi chưa chắc chắn chán. Ngày nay bánh răng bừa đã được bày bán thoáng mát khắp cả nước.

Bánh răng bừa Phụng Cưa

Chả gà tiểu quan

Chả gà Tiểu Quan là một đồ ăn được gia công từ phần thịt nạc nhất của gà. Họ lấy nó mang đi giã nhuyễn, trộn chung với lòng đỏ trứng. Sau đó thêm các loại gia vị khác rồi giã đều rồi đem nướng. Chả có vị thơm cay, beo béo tới miếng cắn sau cuối.

Chả gà tiểu quan

Nhãn lồng

Nhãn lồng địa điểm đây không giống, nó có lớp cùi dày, múi ngọt lịm, mọng nước nhưng rất giòn. Đây cũng chính là món đồ lưu niệm tuyệt đối dành khuyến mãi ngay cho người thân và bạn bè.

Nhãn lồng

Ở chỗ nào nghỉ dưỡng lúc tới phố Hiến Hưng Yên?

Một trong những nhà nghỉ,khách sạn ở phố Hiến Hưng Yên bạn cũng tồn tại thể tìm hiểu thêm

  • Nhà nghỉ Trung Hiếu – Địa chỉ : 100 Chu Mạnh Trinh, Phường Hiến Nam, Hưng Yên.
    Nhà nghỉ Đức Tuân – Địa chỉ : 87 Hải Thượng Lãn Ông, Phường Hiến Nam, Hưng Yên.
    Nhà nghỉ Liên Hiệp – Địa chỉ : Đường Nguyễn Văn Linh, Hưng Yên.
  • Khách sạn Hưng Thái – Địa chỉ : 72 Trưng Trắc, Quang Trung, Hưng Yên.
    Khách sạn Á Đông 2 – Địa chỉ : 21 Chùa Chuông, Hưng Yên.
    Khách sạn Phố Hiến. Địa chỉ : 58 Phạm Ngũ Lão, Hưng Yên.
    Khách sạn Thái Dương – Địa chỉ : 1A Nguyễn Du, Tp Hưng Yên.
    Khách sạn Hồng Ngọc – Địa chỉ : Phường Lam Sơn, Tp Hưng Yên.

Cảnh báo

Vì chính là đi du lịch về Núi Rừng, do đó tất cả chúng ta chăm chú mặc trang phục và mang giầy thể thao cho dể dịch rời. Nhớ đưa theo một trong những loại các loại thiết bị y tế căn bản, phòng các khi sơ ý còn sinh tồn cái áp dụng.

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Về phố Hiến Hưng Yên đi kiếm nét đẹp hoài cổ vào giữa thế kỷ 21

Review Tham Quan Nét Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên 2022

lang nom 1

Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên

Được các nhà nghiên cứu di sản thẩm định là cây cầu đá Hưng Yên cổ độc đáo còn nguyên vẹn trước đó chưa từng cảm thấy ở ngẫu nhiên làng cổ nào của Đồng bằng trung du sông Hồng. Đây là cầu Nôm. Hưng Yên còn sống sót cây cầu đá cổ nữa là cầu Hồng, tuy không hề nguyên vẹn, nhưng niên đại còn sớm hơn hết cầu Nôm…

Cầu Nôm

Cầu Nôm tọa lạc ở đâu?

Cầu đá làng Nôm như một biểu tượng của các dân cư làng Nôm vậy, gần như là các câu ca dao tục ngữ về làng Nôm xưa đều được thông qua biểu tượng đấy là cây cầu này. Không chỉ mang trị giá lịch sử, văn hóa cổ truyền, phong cách xây dựng độc đáo, chiếc cầu đá cổ hơn 200 năm này được các nhà nghiên cứu thẩm định là một dự án công trình độc đáo còn nguyên vẹn trước đó chưa từng cảm thấy ở ngẫu nhiên làng cổ nào của Đồng bằng trung du sông Hồng.

Xuôi theo Quốc lộ 5 từ thành phố Hà Nội đi Hải Phòng khoảng 30 cây số là tới làng Nôm, thuộc địa bàn xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Một ngôi làng cổ trù phú với quần thể di tích lịch sử lịch sử văn hóa cổ truyền độc đáo vẫn còn không thay đổi các nét cổ kính của làng quê Việt Nam.

Nét Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên

Tọa lạc phương thức phố Hiến (thành phố Hưng Yên) nức tiếng thuở nào hơn năm chục cây số, trải qua các tuyến phố nhựa mới xen các chặng đường đất mịt mù bụi đỏ là được thụ hưởng khoảng trống thân thiện của ngôi làng cổ đã tọa lạc yên ổn hàng trăm ngàn năm nay tại chỗ này.

Về với làng Nôm, khách du lịch được đắm mình vào một trong những quần thể di tích lịch sử cổ kính  bao gồm cổng làng, giếng nước, sân đình, chùa Nôm, chợ Nôm, các căn nhà cổ và độc đáo hơn hết là một di sản rất chi là đặc thù – “Cầu Nôm”, để từ đó tìm về khoảng trống phẳng lặng, bình dân đậm chất làng quê Bắc Bộ xưa.

Khám phá cầu nôm

Không chỉ mang trị giá lịch sử, văn hóa cổ truyền, phong cách xây dựng độc đáo, chiếc cầu đá cổ hơn 200 năm độ tuổi của làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, được các nhà nghiên cứu di sản thẩm định là một dự án công trình độc đáo còn nguyên vẹn trước đó chưa từng cảm thấy ở ngẫu nhiên làng cổ nào của Đồng bằng trung du sông Hồng.

Trải qua chiếc cổng làng rêu phong, cổ kính uy nghi như cổng một tòa thành chúng tôi tới cầu Nôm bắc ngang con sông Nguyệt Đức. Tọa lạc giữa quần thể di tích lịch sử cổ kính làng Nôm, cầu Nôm là điểm nổi bật độc đáo đưa đến sức hút đặc thù cho khoảng trống văn hóa cổ truyền thuần Việt của làng.

Nét Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên1

Cầu được gia công hoàn toàn bằng đá. Mặt cầu rộng gần 2m, làm bằng đá xanh nguyên khối, gắn khít nhau. Những phiến đá lớn được các nghệ nhân dân gian đục đẽo rất công phu. Cầu xây 9 nhịp, theo ý niệm của các người xưa số 9 đặc trung cho sự may mắn…

Dầm cầu hình chữ nhật. Tuy vậy bị rêu mốc và cây leo bám, nhưng các nét văn hoa cổ sắc sảo của cầu vẫn rất dễ quan sát. Hai bên thành cầu còn đa số nguyên vẹn các mỏm đá dầm cầu được chạm trổ vân mây phương thức điệu, một hình tiết thường áp dụng bày diễn trang trí trong phong cách xây dựng cổ, được tạo tác công phu, thẩm mỹ và nghệ thuật, rất xảo diệu và cầu kỳ, trông như các chiếc đầu rồng của các thuyền rồng mà vua chúa rất lâu rồi hay sử dụng để đi du ngoạn vậy.

 Chân cầu là các cột đá hình tròn trụ, không đều nhau được đẽo thô để gác dầm cầu, đã bị xói mòn bởi thời hạn, cũng trở thành rêu phong, cổ kính.

Điểm đặc thù của cây cầu còn là tính bền vững lâu dài về cấu tạo. Tuy vậy mặt cầu, mố cầu và chân cầu chỉ gác lên nhau chứ không còn chất liệu link, nhưng thông qua thời hạn hơn 200 năm mặt cầu vẫn phẳng, chắc như đinh đóng cột và vững chắc. Vấn đề này đã cho thấy chuyên môn thiết kế kiến thiết, gia công chất liệu và tiến hành cầu của các người thợ rất lâu rồi rất đáng để nể phục.

Nét Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên2

Những cụ cao niên của làng kể rằng, khi xưa cầu được gia công được làm bằng gỗ lim nhưng để thuận tiện cho mua bán vào chợ Nôm, sau cầu được thành lập lại bằng đá. Trước đây còn tồn ở 1 cây gạo cổ lớn đẹp ở đầu cầu phía bên chùa Nôm, nhưng nay bị cụt ngọn vì gió bão, dù dân làng đã cố cứu nhưng cây chẳng còn nguyên vẹn…

Hơn hai thế kỷ đã qua, trải bao vật đổi sao dời, cây cầu vẫn vững chắc nối nhịp mua bán cho làng nghề đồng nát vang tiếng thuở nào và nhìn cảm thấy bao thay đổi của làng quê.

Cây cầu đá cổ còn gắn kèm với câu truyện về một trong các người chiến sĩ phương thức mạng đầu tiên của làng Nôm, anh hùng liệt sỹ Phùng Văn Thực, người đang không ngại gian nan đứng ra bảo đảm sự sống sót của cây cầu khi cầu bị bọn giặc tìm phương thức cài mìn đánh sập. Câu truyện ấy hiên giờ vẫn được người làng xúc động kể lại với niềm kính trọng và tự hào.

Cây cầu đá cổ là việc không giống nhau trong phong cách xây dựng của làng Nôm và cũng chính là một biểu tượng của ngôi làng cổ khi tên làng, tên cầu hòa làm một, lấn sân vào câu ca dân gian.

 Ai về cầu đá làng Nôm

Mà xem cảnh quan nước non hữu tình

Hoặc: Đồng nát thì về cầu Nôm

Con gái nỏ mồm về ở với cha…

Điểm đặc thù của cây cầu nôm

Nét đặc thù trong phương thức thành lập của cầu đá làng Nôm là mặt cầu, dầm cầu và chân cầu chỉ gác lên nhau chứ không còn chất liệu link như vôi vữa hay đinh ốc như các cây cầu hiện đại. Tuy vậy mặt cầu, mố cầu và chân cầu chỉ gác lên nhau chứ không còn chất liệu link, dù vậy, sau hai thế kỷ sống sót, cây cầu vẫn bền vững lâu dài. 

Vấn đề này đã cho thấy chuyên môn thiết kế kiến thiết, gia công chất liệu và tiến hành cầu của các người thợ xưa rất đáng để nể phục. Ngày nay, hàng trăm ngàn lượt người cùng các phương tiện đi lại cơ giới vẫn qua cầu hằng ngày. 

Cầu Hồng

Xưa nay, dân cư trong và ngoài tỉnh mới chỉ nghe biết cây cầu đá cổ làng Nôm chứ ít người biết ở thôn Tống Xá, xã Tống Phan, huyện Phù Cừ cũng luôn có cây cầu đá cổ “Hồng kiều” giống hệt như cầu Nôm nhưng có niên đại sớm hơn. Trong khi cầu Nôm vẫn được giữ gìn đa số nguyên vẹn thì cầu Hồng rất cần sự gây được sự chú ý bảo tồn của các ngành công dụng.

Cây cầu đá cổ này tọa lạc ẩn mình giữa khu cỏ dại rậm rạp phương thức khu người dân thôn Tống Xá khoảng 500m, phải phát quang vị trí bao vây và bới một lớp đất mỏng dính, cây cầu đá cổ đó mới đưa ra.

 Theo các cụ cao niên bản địa kể lại, trước kia cây cầu là nhịp cầu nối tuyến phố chính đem vào làng, nhưng nay tuyến phố và dòng sông mà cây cầu đó bắc qua không hề sống sót.

Gần cây cầu có hai tấm bia cổ, đôi khi lại thêm một trong những nhà nghiên cứu di sản nội địa tới điều tra qua các tấm bia này.

Nét Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên3

Bia được viết bằng chữ Hán, do sự bào mòn của thời hạn nên các dòng chữ cổ trên hai tấm bia chưa được cụ thể bởi thế hiệu quả nghiên cứu của mình chưa được như nhu cầu. Tuy nhiên các phần chữ lớn trên bia thì vẫn còn tương đối rõ; 1 tấm bia có ghi tiêu đề là “Hưng công hồng kiều tạo bi ký” nghĩa là bia ghi công đức của nhân dân trong việc thành lập cầu Hồng.

Niên đại của “Hồng kiều” vào lúc thế kỷ XV, XVI. Chiếc cầu đó được ghép từ nhiều phiến đá, các phiến đá được các nghệ nhân dân gian đục đẽo rất công phu. Chân cầu cũng chính là các cột đá hình tròn trụ, các phiến đá ở mép cầu được chạm trổ hoa văn hình mây. Cây cầu ngày này còn 5 nhịp, các đầu nhịp được chạm khắc hình rồng độc đáo…

Những cụ cao niên ở bản địa kể lại, cây cầu đá cổ của làng Tống Xá đã nhận thức thấy bao event lịch sử, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trận Phan Tống Xá lẫy lừng của đảng bộ và nhân dân xã Tống Phan anh hùng vẫn còn sống mãi trong ký ức nhân dân, cây cầu khi ấy là giao điểm của các trận chiến giữa quân và dân ta với giặc Pháp. Một số trong những mảng vỡ do đạn pháo của Pháp và của ta bắn vào thành cầu là vật chứng nhộn nhịp cho các ngày tháng hào hùng đó.

Hiện tại “Hồng kiều” và các tấm bia cổ tọa lạc ở địa chỉ hẻo lánh ngoài cánh đồng của thôn Tống Xá. Do không có một số người đi lại và bảo đảm nên cây cầu nay đã bị thất lạc hai đầu đường dẫn và các phiến đá mặt cầu đã bị xê dịch không theo thứ tự. Đặc thù một trong những đoạn đã bị vỡ, dân cư địa điểm đây cũng rất lo ngại chưa biết số phận “hồng kiều”, một di sản văn hóa cổ truyền quý của quê hương mai sau sẽ ra làm sao vì các cơ quan công dụng chưa tồn tại biện pháp bảo tồn…

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Độc đáo 2 cây cầu đá cổ ở Hưng Yên

Review Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên 2022

datrach03 0126 scaled

Đền hóa Dạ Trạch ở chỗ nào?

Đền Hóa Dạ Trạch tọa lạc ngay trong vùng đầm Nhất Dạ Trạch, thuộc địa bàn xã Dạ Trạch ngày nay. Và còn được gọi là đền Hóa vì tương truyền đây đây là nền thành tháp cũ của Chử Đồng Tử – Tiên Dung để lại sau lúc toàn bộ đã bay về trời.

Trong vùng ngày này có đến 72 di tích lịch sử thờ Thánh Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung nhưng Vị trí nào muốn thờ, trước hết phải qua Vị trí này, đền thờ chính để rước thần hiệu, tiếp sau đó mới được thờ.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên

Tên thường gọi Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên

Tên thường gọi: Đền Hóa, đền Dạ Trạch, Dạ Trạch Hóa từ.

Sở dĩ mang tên thường gọi “Dạ Trạch ” vì dền tọa lạc ngay trong vùng đầm Nhất Dạ Trạch, thuộc địa bàn xã Dạ Trạch ngày nay. Và gọi là đền Hóa vì tương truyền đây đây là nền thành tháp cũa của Chử Đồng Tử – Tiên Dung để lại sau lúc toàn bộ đã bay về trời.

Nếu đúng như trong sách Lĩnh Nam Trích Quái viết (Nửa đêm trời bỗng nhiên sáng rực, thành tháp thành quách của Chử Đồng Tử – Tiên Dung bay cả thăng thiên, để lại đầm nước bát ngát. Quan quân sợ quá về tâu, Vua Hùng Duệ Vương tới tận Vị trí xem và truyền lập đền thờ, nhân dân bốn mùa cúng tế… ) thì đền Hóa có từ xa xưa.

Truyền thuyết Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân ở Đền hóa Dạ Trạch

Tương truyền Đền hóa Dạ Trạch, tại làng Chử Xá, Văn Giang, Hưng Yên, có hộ dân ngư dân nghèo là ông Chử Vi Vân và bà Bùi Thị Da, vk chồng lập gia thất đã lâu mà dường như không có con. Một đêm bà Bùi Thị Da tọa lạc mộng, cảm nhận thấy tiên ông từ Thiên đình giáng thế cho bà một tiên đồng, bà giơ tay đảm nhận rồi giật mình tỉnh giấc. theo đó, bà thụ thai, tới ngày mãn nguyệt khai hoa (nhằm mục đích ngày 12 tháng tám) bà hạ sinh một người thiếu niên khôi ngô tuấn tú khác thường, đặt tên là Chử Đồng Tử.

Có vần thơ đánh dấu:

“Đời Hùng Vương

Ngày mười hai tháng tám

Đức thần tiên hạ giáng cõi trần

Vào trong nhà họ Chử Vi Vân

Mấy đời tích đức âm cung hải hà

Huyện Văn Giang quê hương Chử Xá

Vẻ uy nghi phẩm giá kỳ thanh”.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên1

Thuở hàn vi, Chử Đồng Tử gặp nhiều gian nan, năm mười ba tuổi mẹ mất, ít lâu sau nhà cửa hỏa hoạn, gia sản cha con chỉ với chiếc khố rách, thay nhau mặc mỗi lúc ra khỏi nhà. Họa vô đơn chí, một vài hôm sau, người cha ốm nặng qua đời. Lúc hấp hối, người cha dặn con giữ lại chiếc khố mà mặc kẻo thiên hạ chê cười, cha đã có nhiều ba thước đất che chở.

Sẵn lòng hiếu thảo, Chử Đồng Tử đã liệm cha bằng chiếc khố độc tôn, khâm liệm xong tha hương cầu thực, ngày ngâm nước kiếm cá, đổi lấy thức ăn của thuyền bè qua lại, dần dà xuống huyện Chu Diên (tức Khoái Châu) ngày nay.

Một hôm, đang kiếm cá dưới sông, chợt cảm nhận thấy cờ xí rợp trời, trống chiêng inh ỏi, Chử Đồng Tử lúng túng, chạy lên bãi Tự Nhiên, vùi mình vào cát ẩn nấp. Khi đó, đoàn thuyền của Công chúa Tiên Dung, con gái Hùng Duệ Vương (Vua Hùng thứ 18) du ngoạn sông Nhị (sông Hồng ngày nay), cảm nhận thấy bãi sông đẹp, bèn cho hạ thuyền, lên bãi cát ngắm cảnh rồi quây màn trên bãi để tắm.

Khi dội nước, cát trôi đi, lộ nguyên hình Chử Đồng Tử, Tiên Dung đã hết lúng túng, giữ Chử Đồng Tử lại, hỏi rõ nguyên cớ. Nàng nói “Ta nguyện không lấy chồng, lúc này hai ta không hẹn mà gặp, lại trong yếu tố hoàn cảnh hai người đều không quần áo, ắt là ý trời xe duyên đó thôi,” bèn sai quân hầu cấp quần áo và làm lễ thành hôn, yến tiệc linh đình. Khi Hùng Duệ Vương nghe tin giận dữ nhận định rằng con gái không giữ phẩm giá kết duyên với kẻ tầm thường, bèn từ con quán triệt Công chúa hồi Cung.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên2

Từ bỏ cuộc đời nhung lụa, hai vk chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung làm nông dệt vải, dựng chợ làm nghề kinh doanh. Chử Đồng Tử theo thuyền ra khơi đi kinh doanh trên biển, vô tình gặp được tiên ông là Ngường Quang trên hòn đảo Quỳnh Lăng.

Thấy vóc dáng của Chử Đồng Tử khác thường, bèn giữ lại truyền dạy các bài thuốc chữa bệnh cứu người và phép thuật biến hóa để cứu nhân độ thế. Ba tháng trên động bằng ba năm trần gian, trước khi quay lại, tiên ông ban cho chiếc gậy và chiếc nón dặn rằng “Phép thần thông cả ở trong này, khi có việc cần kíp cứ cắm trượng xuống đất, úp nón lên trượng, đọc câu thần chú, mọi việc sẽ như mong muốn muốn”.

Về nhà, Chử Đồng Tử thuật lại mọi chuyện cho vk. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc kinh doanh, cùng chồng chu du bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Khi đó, xã Ông Đình và An Vĩ có bệnh dịch, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã hỗ trợ chữa dân chúng, từ thập tử nhất sinh bình phục quay lại.

Trong một lần đi chữa bệnh, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đột nhiên gặp Tây Sa, cảm nhận thấy người nhan sắc tuyệt trần, Tiên Dung khẽ hỏi “Nàng là tiên chăng, hay là thần gió, thần hoa đây?”. Tây Sa đáp “Chẳng qua ta chỉ náu mình thôi, chính ta là Tây Sa Tiên Cung, mới nhìn đã biết vk chồng chị đã tu đắc đạo thành tiên cả rồi.

Nay không hẹn mà gặp nhau ở chỗ này, chẳng biết là duyên trời hay tình người nhỉ?” Sau một hồi thì thầm, Tiên Dung đã kết nghĩa chị em và xe duyên cho Chử Đồng Tử. theo đó ba người đi chữa bệnh, truyền đạo tiên học được cho dân chúng.

Được tin Vua cha ốm nặng, Ngự y trong triều lực bất tòng tâm, Chử Đồng Tử và Tiên Dung nhờ Tây Sa đóng giả làm bà lang, xin vào Cung để trị bệnh cứu Vua. Được Tây Sa chữa bệnh, Hùng Duệ Vương đã nhanh gọn khỏi bệnh một phương thức diệu kỳ.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên3

Một lần khi đi chữa bệnh cho dân, nghỉ chân ở xã Vĩnh Hưng (tức Dạ Trạch ngày nay), cả ba người tạm ngưng cắm gậy úp nón lên trên dựng lán ngủ tạm. Nửa đêm, bỗng Vị trí đó thành quách mọc lên, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Hôm sau, dân chúng xung quanh ngạc nhiên bèn kéo tới quỳ lạy, nguyện xin làm bầy tôi. Cả một vùng làm nên u ám và sầm uất, an khang như một đất nước.

Vua Hùng nghe tin cả giận, nghi ngại Tiên Dung cùng chồng tạo phản, bèn cho quân đi dẹp, bắt về trị tội. Khi cảm nhận thấy đội quân Triều đình vây bắt, Tiên Dung than lên “Bày tôi không khi nào chống lại Vua, con không khi nào phản cha. Ta phải tuân theo lẽ phải, dù chết cũng cam lòng để tròn hai chữ Trung – Hiếu.”

Suy nghĩ phút giây, Chử Đồng Tử niệm chú, nhổ gậy và nón khỏi bề mặt đất, lập tức trời đất rung chuyển, thành tháp nguy nga mất hút, Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hóa về trời, để lại một hố lớn gọi là Trầm, chữ nho là Trầm Nhất Dạ (gọi là Dạ Trạch). Ngày tam vị đồng hóa được đánh dấu nhằm mục đích ngày 17 tháng 11 Âm lịch.

Được tin dữ này, Hùng Duệ Vương đích thân xa giá về tận Vị trí xem thực hư sự tình, nghe thần dân bản địa tâu lại sự tình. Đột xuất trên trời có mặt nàng Tây Sa cưỡi hạc trắng, tạ lỗi với Vua Hùng, vua chợt nhận ra ân nhân cứu mạng, sực tỉnh, thương xót các con bèn cho lập đền thờ dọc hai bên bờ sông Hồng. Ngày nay, Đức Thánh Chử Đồng Tử được thờ tại nhiều Vị trí trên toàn nước.

Khám phá Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên

Những truyện thế kỷ thứ V Triệu Quang Phục cầu hòn đảo tại chỗ này, thế kỷ XV Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn tới đây cầu mộng, thế kỷ XVI các nhà thơ hội Tao Đàn đã làm thơ vịnh Chử Đồng Tử, có câu “Anh linh miếu dõi từng hương khói ” vậy từ lúc đó đã có nhiều miếu thờ, đền thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung tại Vị trí này. Nhưng mô hình nhỏ dại, chất liệu xây cất như thế nào và có đúng Vị trí đấy là nền miếu cũ thì không dễ cam kết.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên4

Đền Dạ Trạch lúc đó tọa lạc trên gò đất cao, dân cư muốn vào đền phải đi thuyền. Những năm đền mở hội, phải bắc một cầu tre cho người qua lại. Bước lên gò, các cụ phụ lão còn phải leo 19 bậc mới đến sân đền.

Đền Hóa Dạ Trạch ngày này mới được trùng tu phương thức đây khoảng 100 năm. Ao, đầm chung quanh được lấp kín, trước đền chỉ còn sót lại cái hồ bán nguyệt nhỏ dại. Bước lên đền ngày này chỉ phải leo 4 bậc.

Đền Hóa Dạ Trạch nhìn thẳng hướng chính Đông, xây theo kiểu chữ I (công) có ba tòa lung linh. Xinh tuyệt vời nhất nhất tòa thứ ba, tức hậu cung, mái vòm cuốn tam cấp, gợi cảm xúc như đứng trong khoang thuyền. Gian chính diện, ở chính giữa là ba pho tượng lớn, tượng Chử Đồng Tử ngồi giữa, mặc hoàng bào. Bên trái là Tiên Dung, phía phía bên phải là Nội Trạch Tây Cung.

Cũng ở gian chính diện, phía phía bên phải là bàn thờ cúng Cha và Mẹ Chử Đồng Tử. Bên trái là bàn thờ cúng Long Ngai, long vị Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục trước đó được thờ tại 1 đền riêng. Do đền này đổ nát, dân làng phối tự về đây.

Đền Dạ Trạch là một đền lớn và đẹp, nhiều cột lim lớn, nhiều hoành phi, câu đối mệnh danh sự tích, đề cao thánh Chử và Đạo của Ngài:

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên5

– Uất thông giai khí (khí tụ lại, phát dần lên).

– Âm khí và dương khí hợp củng (Âm khí và dương khí cùng hòa hợp)

– Sở quá giả hóa (Tự làm quá đi, vậy hóa thành cái khác)

– Nam thiên tứ vị (bốn vị thần trời Nam, ý câu này nhắc đến Chử Đồng Tử là một trong những 4 vị “Tứ bất tử”).

– Hải thượng tam thần (Ban vị thần ở trên biển. Câu này mệnh danh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hiển thánh bay về trời tại biển này )

Cũng ở đền Hóa Dạ Trạch, gian giữa bên trái có tượng thần cá. Đây chính là “Bế Ngư thần quan”. Tượng được làm bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, đầu rồng, thân và đuôi hình chú cá chép, nhân dân quen gọi là “ông Bế”.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên6

  Cùng bàn thờ cúng và tượng ông Bế là hai con con Ngữa một đỏ, một trắng. Tương truyền Chử Đồng Tử – Tiên Dung thường cưỡi con Ngữa đi các Vị trí chữa bệnh cho nhân dân. Cả tượng cá, tượng con Ngữa đều sở hữu bánh xe, ngày hội dân làng đặt ra rước, người đi hai bên cầm lọng che.

  Đối lập với ngai thờ ông Bế, là một ngai thờ, bên bát hương có chiếc gậy, đầu gậy úp cái nón. Nón và gậy thần là biểu thị phép tiên Chử Đồng Tử chữa bệnh cải tử hoàn sinh cho nhân dân.

  Đền Hóa Dạ Trạch nhìn thẳng ra một chiếc hồ, trước hồ có lầu chuông. Chuông đó được đúc năm Thành Thái thứ 14 (năm 1902) có tên Dạ Trạch từ chung (chuông đền Dạ Trạch). Tại chỗ này còn dựng hai bia đá, có niên đại năm Gia Long thứ 17 (năm 1819).

 Đền Hóa ở sâu trong vùng đầm Dạ Trạch, đình đám thâm nghiêm và linh thiêng. Trên gò đất phía đằng sau đền ngày nay vẫn còn giữ được một chút cây cổ thụ, tạo cho đền Hóa một vẻ đẹp thâm u, kín đáo, thoát tục. Không khí linh thiêng trong đền quyện mùi nhang trầm, hương hoa, giữa ngày hè mà tại chỗ này yên tĩnh làm làm mát mẻ. Sau màn che, cửa võng là ánh nắng của đèn nến lộng lẫy đưa con người về với tổ tiên ông bà, cội nguồn dân tộc Vị trí thời trước, con người yêu nhau, hòa phù hợp thiên nhiên, đánh giặc và thành lập quê hương giang sơn. 

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên7

Phương thức đây xấp xỉ 4000 năm lịch sử như trong thần phả của đền hóa đã ghi. Sau khi Chử Đồng Tử kết duyên cùng Tiên Dung công chúa tại bãi bỗng nhiên thuộc Màn Chầu (cuộc tình duyên do thiên định), chưa được vua cha thuận ý lên vk chồng. Không giám hồi cung, ở lại địa điểm huyện Chu Diên để kiếm kế sinh nhai.     

Một hôm Chử Đồng Tử theo thuyền ra khơi đi kinh doanh, dạt vào trong 1 quần đảo, gặp được Tiên Ông tên là Ngưỡng Quy Tiên, ông cảm nhận thấy Đồng Tử vóc dáng khác thường bèn giữ lại dạy cho một số trong những bài thuốc chữa bệnh bằng lá rừng để cứu dân độ thế và dạy được phép thuật.

Sau 3 ngày ở động tiên, Đồng Tử đã biết được việc chữa bệnh, Tiên Ông được phép Đồng Tử về, ban cho Đồng Tử chiếc gậy và nón và dặn: ” Phép thần thông ở cả trong này, có việc gì nhà người cần kíp nhà ngươi cứ cắm trượng xuống đất, úp nón trên đầu trượng, đọc câu thần chú mọi việc để được như mong muốn muốn “.

Khám phá lịch sử Hình Thành Đền hóa Dạ Trạch Hưng Yên8

Trượng, nón được thờ tại đền Hóa Dạ Trạch

Một ngày kia, trong làng bỗng có bệnh dịch tả, Đồng Tử cùng Tiên Dung đi chữa bệnh cho đa số chúng ta. Một hôm, vì mải chữa bệnh nên khi trời tối, nhớ lại câu thần chú của Tiên Ông dạy, Đồng Tử liền chống cây gậy và úp nón để tạm nghỉ. Nửa đêm thức giắc thì cảm nhận thấy mình ở trong một tòa thành tháp nguy nga, trang nghiêm.

Vua Duệ Vương cảm nhận thấy vậy thì tưởng rằng con rể định cướp ngôi, vua liền đem quân ra đánh bắt về trị tội. Khi quân hoàng đế tới, thì cả tòa thành tháp bỗng chốc biến đâu mất, để lại Vị trí đấy một chiếc Trầm, gọi là Trầm Nhất Dạ, đây chính là đêm 17/11 âm lịch. Do đó có sự tích ” Đầm Dạ Trạch ” mà tất cả chúng ta biết ngày nay.

lễ hội

Lễ hội trình làng vào trong ngày 10/2 tới ngày 12/2 âm lịch. Hành trình của đám rước: Ban đầu đi từ cửa đền Hóa Dạ Trạch tới bên bờ sông bến Vĩnh, lấy nước giữa dòng , xong quay trở lại đền.

Trong lễ hội còn sinh tồn vô số cuộc chơi dân gian rực rỡ như: Chọi gà, đấu vật, đu bay, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập liêu…

Song song với các mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ truyền thống cổ truyền như: Ca trù, Ả đào, Hát giao duyên/ Hát đối, Hát văn, Quan họ, đội múa rồng, múa lân…

chọi ga

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Lịch sử dựng nên Đền hóa Dạ Trạch –

Review Tham Quan Đền Ghềnh nơi thờ Công Chúa Ngọc Hân tại Hà Nội 2022

279 den tho chu dong tu 1

Đền Ghềnh ở chỗ nào?

Đền Ghềnh có tên chữ là “Thiên quang linh từ”, gần cầu Chương Dương, thuộc địa bàn tổ 2, phường Bồ Đề, Gia Lâm – Hà Nội. Gọi là đền Ghềnh vì trước cửa đền có một ghềnh nước lớn. Theo năm tháng, dòng chảy biến động, con ghềnh mất đi và chỉ còn sót lại dấu tích nơi tên đền.

Tên thường gọi Đền Ghềnh Hưng Yên

Đền Ghềnh có tên chữ là “Thiên Quang linh từ”, ở ngay mép sông Hồng, gần cầu Chương Dương, trước thuộc thôn Ái Mộ, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, nay thuộc tổ 2, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội. Ái Mộ – Bồ Đề là một địa điểm có không ít di tích lịch sử lịch sử, văn hóa cổ truyền. Nơi đây từng là trụ sở của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Tham Quan Đền Ghềnh

Đền Ghềnh là cách thức gọi rất gần gũi của nhân dân bản địa, vì nơi đây xưa kia nước sông chảy xiết, cuộn ghềnh. Nước dữ đã làm thuyền qua lại trên sông hay lật và bị cuốn trôi. Nhưng rất lạ, miếu nhỏ dại thờ Thủy thần lại được gọi là Thiên Tiên Cổ điện, tức miếu thờ Tiên (trên trời). Phải chăng nơi đây đất lành nên Thiên – Thủy giao hòa?

Do chỗ đứng gần mép sông nên miếu bị sạt lở và được thành lập lại nhưng miếu biến thành đền như ngày hiện tại là vì việc thành lập lại gắn kèm với truyền thuyết ba bộ tro cốt của mẹ con Ngọc Hân công chúa – Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung thời Tây Sơn.

Công Chúa Lê Ngọc Hân

Lịch sử 

Công Chúa Lê Ngọc Hân là 1 trong những các vị công chúa nhiều người biết đến nhất lịch sử Việt Nam. Bà được đánh giá là vị anh hùng áo vải đứng đằng sau sự thành công của vua Quang Trung Nguyễn Huệ. 

Ngọc Hân Công Chúa là đứa con gái thứ chín của vua Lê Hiến Tông và Chiêu Nghi hoàng hậu Nguyễn Thị Huyền. Bà là người có vẻ như xinh hoàn mỹ, nết na, thùy mị, nổi biệt nhất trong số các công chúa con hoàng đế. Năm 1786, sau lúc hoàn thiện sứ mệnh “Phò Lê diệt Trịnh” và đem quân ra Bắc, Nguyễn Huệ vào cung yết kiến và trao binh quyền cho Vua Lê.

Cảm kích trước vấn đề đó lại muốn kiến thiết xây dựng quan hệ thân tình với nhà Tây Sơn, vua Lê Hiến Tông đã ra quyết định gả đứa con gái xuất chúng nhất của mình cho Nguyễn Huệ. Lúc này công chúa vừa tròn 16 tuổi còn Nguyễn Huệ đã 33 tuổi. 

Công Chúa Ngọc Hân

Tình thế xoay chuyển càn khôn, quân Thanh xâm lăng nước Nam, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, một lần tiếp nữa dẫn quân ra Bắc hủy diệt quân xâm lược. Khi ấy, vua đã phong cho bà là Hữu Cung Hoàng Hậu, ở lại cứu vua lo liệu việc triều chính. Bà là người có nhãn quan chính trị tinh tế, cảm thông sâu sắc thời cuộc nên mọi việc từ chuyện nhỏ dại tới chuyện lớn đại sự đất nước đều được bà bố trí chu toàn, thấu đáo cứu vua an tâm đánh giặc. Năm 1789, sau lúc thắng trận trở lại, Nguyễn Huệ phong cho bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu, đóng đô ở Phú Xuân.

Sau khi Quang Trung mất, hoàng hậu Ngọc Hân mất hết thế lực tối cao. Bà phải thông qua bao năm tủi nhục, lẩn trốn sự truy lùng của nhà Nguyễn để nuôi con. Buồn thay, tới năm 1799 hoàng hậu Ngọc Hân từ trần lúc mới 29 tuổi. Lần lượt tiếp sau đó, hai đứa con của bà là công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức cũng đi theo bà khi tuổi còn nhỏ dại. 

Nơi an nghỉ Công Chúa Ngọc Hân

Theo tương truyền, năm 1804 mẹ hoàng hậu Ngọc Hân là Mẫu Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền đã kín đáo nhờ một tướng nhà Nguyễn đưa tro cốt 3 mẹ con bà về chôn ở bãi Cây Đại trong làng Nành. Lúc đó nhà Nguyễn đang truy lùng rất là gắt gao, tìm cho ra tro cốt của 3 mẹ con hoàng hậu Ngọc Hân nên mộ bà được xây hết sức đôi khi.

Tham Quan Đền Ghềnh 1

Tuy nhiên, 38 năm sau, đời vua Thiệu Trị, do xích míc trong làng nên có đơn tố giác ông chánh tổng Hà Dương dung túng cho làng Phù Ninh (làng Nành nơi chôn hoàng hậu Ngọc Hân) thờ nghịch tặc. Khi ấy, tổng đốc Bắc Ninh được triều đình cử đi điều tra đã phát chỉ ra tại dinh Thiết Lâm, nơi an nghỉ của Mẫu Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền có thờ hoàng hậu Ngọc Hân và 2 người cháu ngoại.

Ngay khi đó, triều đình lệnh cho quân lính đào mộ lên và hất tro cốt xuống sông. Tuy nhiên, một ít ngày sau đó, tại khúc sông làng Ái Mộ nổi dậy bãi bồi ngày một cao, dân cư nhận định rằng đây là tro cốt của 3 mẹ con hoàng hậu Ngọc Hân nên tạo miếu thờ và thắp nhang tại đây. Tuy nhiên ít lâu sau, ngôi miếu nhỏ dại cũng trở thành lũ cuốn trôi.

Mãi tới năm 1858, cụ Đặng Thị Bản, bà xã cụ Định Đình Hinh cùng với nhiều khách thập phương khác đã hằng tâm công đức tôn tạo lại đền ở Ái Mộ được nhân dân rất chi là quý trọng. Ngày ấy, nhà Nguyễn vẫn còn thù hằn với nhà Tây Sơn nên để bảo đảm đền, dân cư nơi đây phải áp dụng hình thức mẫu Thoải để thờ thay thế vì thờ đích danh công chúa Ngọc Hân.

Tới năm 1872, Pháp đánh phá Hà Nội, đền cũng trở thành tàn phá tuyệt vời. Cụ Bản lại vùng lên kêu gọi quyên góp khắp nơi và thành lập lại đền khang trang hơn trước. Trải qua bao phen binh lửa, đền Ghềnh vẫn được con cái cụ trông nom tới ngày nay.

Tham Quan Đền Ghềnh 2

Dâng lễ đền Ghềnh

Đền Ghềnh đó này là nơi anh linh tụ khí, rất chi là linh thiêng. Khách hành hương đổ về đền ngày một nhiều một trong những phần vì dư âm của trang liệt nữ – Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân, một trong những phần do vì đền thiêng, linh ứng nhiều lời thỉnh cầu của dân chúng. Con hương thường tới đền đông nhất là vào đầu năm mới và dịp lễ hội đền vào tháng ba để cầu cho hộ dân cư thuận hòa, êm ấm, kỹ năng có lộc, có của ăn của để, công việc làm ăn xuôi chèo mát mái.

Mọi khi tới đền, con hương thường sắm lễ trước trong nhà. Bởi cũng như các ngôi đền nhiều người biết đến khác, giá lễ vật được bán cạnh đền đắt gấp 2 tới 3 lần đôi khi, rất là chặt chém. Một mâm lễ được sắm như thế thường gồm các thức lễ như một đĩa hoa, một đĩa quả, một cơi trầu, quả cau, cút rượu, xôi thịt,  card hương, giấy tiền, và cánh sớ.

Trong các thời điểm dịp lễ lớn của đền, nhiều con hương thường muốn dâng tiến các lễ vật đẹp, sang mang dấu ấn tốt nhất đẹp để rất có thể bày trên ban thờ thánh trong thời hạn dài, bày tỏ lòng thành kính. Khi ấy, Oản Tài Lộc đó này là lễ vật thích hợp nhất. Bởi oản được thiết kế với tỉ mỉ đẹp sang, mang dấu ấn tiền tài may mắn tốt lành lại rất có thể để được đến 6 tháng không biến thành hỏng mốc, cực tương thích bày trên ban thờ thánh.

Quanh oản dâng đền Ghềnh là oản màu trắng. Theo đó, loại oản được khích lệ nên dâng lễ tại đền là các quanh oản được bày diễn trang trí tỉ mỉ, rõ ràng và cụ thể với hoa lụa, lá ngọc cành vàng long trọng, lung linh cũng như dòng sản phẩm Oản Tài Lộc mà Oản Cô Tâm đang khiến.

Tham Quan Đền Ghềnh 3

Oản tiền tài thuộc chính hiệu Oản Cô Tâm là loại oản nổi bật, được đơn vị chức năng này góp vốn đầu tư nghiên cứu, thiết kế kiến thiết sao cho đẹp mắt, vừa ý quý khách hàng lại thích hợp với văn hóa cổ truyền thờ cúng Tứ Phủ của rất nhiều người Việt.

Loại oản này nổi bật tương thích dâng lên vị thánh mẫu đền Ghềnh biểu thị lòng thật tâm của rất nhiều người lễ bởi các rõ ràng và cụ thể bày diễn trang trí trên oản đều thuộc chất liệu thượng hạng, được bố trí có chủ kiến, mang nhiều đặc biệt ý nghĩa may mắn tốt lành. Oản đó này là vật đại diện thay mặt tiền tài cầu 1 năm tấn tài, tấn lộc, tấn bình yên tới với gia chủ. 

Nơi đặt và cách thức di chuyển tới đền Ghềnh từ bến xe nội thành

Đền Ghềnh tọa lạc tại Ngõ 22, Phú Viên, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội nên rất thuận tiện cho con hương từ Hà Nội tới thăm đền tại các tuần tiết trong tháng, trong năm. Dù vậy, hàng năm, đền Ghềnh cũng đón rất nhiều du khách ngoài tỉnh khác về lễ đền. Đa số để thuận tiện, con hương thường đi xe riêng tới đền. Tuy nhiên, nếu bạn có đi xe khách về Hà Nội và muốn tới tham quan hay dâng lễ đền thì vẫn rất có thể đi bằng xe bus nơi công cộng hoặc đặt xe ôm hay taxi.

Nếu chuyển dời bằng xe bus nơi công cộng với giá vé 7000đ 1 lượt, tại các bến xe lớn trong nội thành Hà Nội, lộ trình di chuyển sẽ như sau:

Bến xe Gia Lâm là bến xe gần đền Ghềnh nhất bởi bến xe này thuộc cùng khu Long Biên với Đền nên nếu được bạn nên bắt xe khách tới điểm đó – thời hạn dự đoán tới đền 15 phút:

  • 549 Nguyễn Văn Cừ gần bến xe Gia Lâm – xe 11 – Chùa Ái Mộ – vui chơi tới đền Ghềnh khoảng 350m.
Tham Quan Đền Ghềnh 4

Bến xe Giáp Bát – thời hạn di chuyển dự đoán hơn 30 phút tùy con đường và trường hợp giao thông:

  • Tại bến xe bắt xe 08A, 08ACT, 08B, 08BCT – điểm Hàng Muối – xe bus 11 – chùa Ái Mộ – vui chơi khoảng 450m đến đền Ghềnh. Chính là tuyến xe tối ưu nhất và nhanh nhất.
  • Tại bến xe bắt xe 08A, 08ACT, 08B, 08BCT – điểm trung chuyển Long Biên sang làn đón xe bus phía đường Trần Nhật Duật – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 
  • Tại bến xe bắt xe 08A, 08ACT, 08B, 08BCT điểm trung chuyển Long Biên sang làn đón xe bus phía đường Trần Nhật Duật – xe 98 – chùa Ái Mộ – vui chơi khoảng 450m đến đền Ghềnh.
  • Tại bến xe bắt xe 08A, 08ACT, 08B, 08BCT – điểm Hàng Muối – xe 11 hoặc 34 – Ô Quan Chưởng – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 
  • Tại bến xe bắt xe 08A, 08ACT, 08B, 08BCT – điểm trung chuyển Long Biên sang làn đón xe bus phía đường Trần Nhật Duật – xe 100, 10B, 17, 98 – Ô Quan Chưởng – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 

Bến xe Mỹ Đình – thời hạn di chuyển dự đoán gần 1 tiếng tùy con đường và trường hợp giao thông:

  • Đối lập bến xe Mỹ Đình – xe 34 – Ô Quan Chưởng – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 
  • Tại bến xe Mỹ Đình – xe 35A – Bệnh viện đa khoa y học truyền thống – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 
  • Tại bến xe Mỹ Đình – xe 09B – 165 Cầu Giấy – xe 34 – Ô Quan Chưởng – xe 47A – 21 Bồ Đề, Cầu Chương Dương – vui chơi khoảng 150m đến đền Ghềnh. 
  • Đối lập bến xe Mỹ Đình – xe 34 – 145 Nguyễn Thái Học sân VĐ Hàng Đẫy – xe 22A – 549 Nguyễn Văn Cừ – xe 11 – Chùa Ái Mộ – vui chơi tới đền Ghềnh khoảng 350m.
  • Tại bến xe Mỹ Đình – xe 09B – 165 Cầu Giấy – xe 34 – 549 Nguyễn Văn Cừ  – xe 11 – Chùa Ái Mộ – vui chơi tới đền Ghềnh khoảng 350m.
Tham Quan Đền Ghềnh 5

Di vật ở Đền Ghềnh

Giá trị của đền Ghềnh còn được biểu thị ở các di vật. Trước hết, phải nói đến quả chuông được đúc vào thời Tự Đức (1876). Rất tiếc, bài minh trên chuông đã mờ nên không còn đọc được nội dung. Hai cỗ kiệu: 1 kiệu Long Đình và 1 kiệu Mẫu. Chính là các cỗ kiệu lớn được bày diễn trang trí bằng nghệ thuật và thẩm mỹ chạm trổ cực kỳ xinh. Nhưng nổi bật hơn hết là các giá cả phi vật thể tọa lạc ở các bức đại tự, cuốn thư và hoành phi, câu đối.

Nội dung của rất nhiều chữ được biểu thị trên các di vật đó đều triệu tập vào ca tụng cảnh đẹp, đất thiêng, công trạng, đức độ của rất nhiều vị Thần được thờ, nơi ngôi đền tọa lạc. Những bức đại tự định vị giá cả của đền như: “Đức dày của đất” (Khôn đức hậu), “Mây lành chở che” (Từ vân ấm), “Vua trong nữ giới” (Nữ trưng vương), “Điện cổ Thần Tiên” (Thiên Tiên cổ điện), “Bà mẹ của sông nước” (Thủy Tiên Thánh Mẫu)

Đặc thù Tới Ghềnh

Hệ thống điện Thần trong đền Ghềnh sắc nét khác nhau nếu với điện Thần tứ phủ bình thường:

Trong ưng ý chỉ có tượng công chúa Ngọc Hân được đánh giá là Mẫu Thoải mà hoàn toàn không có Mẫu Thiên, Mẫu Địa (Thượng Ngàn).

Hai bên ngoài Hậu CungTứ vị Thánh Chầu, cách thức bài trí này ít gặp ở các điện Thần Tứ phủ khác như Phủ Tây Hồ, phủ Giầy, đền Mẫu Tuyên Quang, Thành Phố Lạng Sơn

Tham Quan Đền Ghềnh 6

Thông thường tượng các quan Hoàng Khâm Trực điện Thần Mẫu (quan Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười) được đặt tại Công đồng các quan, ngay phía đằng trước 5 vị Tôn Ông. Nhưng tại chỗ này, các vị đó lại được đặt ơ hai bên quay vào chính điện. Đây lại là một điểm khác nữa.

Sự khác nhau thứ tư là Tứ phủ Thánh Cậu được đặt ở cả hai bên trước cửa lẩu Sơn Trang. Ít ỏi khi cảm nhận nơi nào thờ Tứ phủ Thánh Cậu trong  chính điện mà chỉ có lầu Cô, lầu Cậu ở phía đằng trước đền.

Hai Lầu Cô ở đền Ghềnh đặt trước phủ Chúa Sơn Trang là sự việc khác nhau thứ năm.

Điểm khác nhau thứ sáu là trước cửa đền, ngoài sân có ban thờ ông Hồ (trong đạo Mẫu gọi là Quan thanh tra) quay thẳng vào chính điện. Phương thức bài trí này sẽ không có ở các đền Mẫu khác. Chưa biểu thị rõ gốc rễ sự khác nhau, nhưng sự khác nhau này cũng biến thành nét khác biệt của đền Ghềnh.

Kiến trúc đền Ghềnh

Đền Ghềnh thông qua không ít lần bị ảnh hưởng tác động ngoại cảnh tàn phá nên được tu sửa không ít lần. Do đó các nét bản vẽ xây dựng cổ của đền gần như là đã không còn gì. Tuy nhiên các hạng mục chính của đền vẫn được bảo đảm như điện mẫu, điện sơn trang, nhà tổ, nhà khách, vị trí phụ trợ. 

Cổng vào đền được xây theo lối cổng tam quan với cửa đỏ nổi biệt. Tiến vào trong, tại sân đền có ban thờ ông Hồ (Quan Thanh Tra) quay thẳng vào chính điện. Tại chính điện, nằm trong cùng là cung cấm được sơn son thiếc vàng lung linh thờ công chúa Ngọc Hân hay đó này là Mẫu Thoải. Hai bên ngoài ưng ý có đặt ban thờ Tứ Vị Thánh Chầu cùng Công Đồng các quan, Ngũ vị Tôn Ông, các vị Tứ Phủ Thánh Cậu.

Ngoài ra, đền Ghềnh cũng nhiều người biết đến với các di vật có từ thời trước. Trước tiên là quả chuông được đúc từ thời vua Tự Đức (1876). Sau đây là hai cỗ kiệu: 1 kiệu Long Đình và 1 kiệu Mẫu. Những cổ vật đó đều được bày diễn trang trí trạm trổ rất chi là tỉ mỉ và khéo léo, khó có nghệ nhân nào ngày nay rất có thể làm được. Ngoài ra, đền cũng cất giữ nhiều bức đại tự, cuốn thư, hoành phi, câu đối rất là có giá cả cả về mặt vật chất và tinh thần.  

Tham Quan Đền Ghềnh 7

Lễ hội đền Ghềnh

Hàng năm đền Ghềnh thường tổ chức lễ hội vào tháng tám âm lịch, từ mùng 6 tới 12. Lễ hội đền Ghềnh được thẩm định là rất chi là khác biệt, khó nơi nào đã đạt được. Lễ hội cũng được chia thành 2 phần đây là phần lễ và phần hội. Phần lễ nổi biệt với lễ rước nước được tổ chức ngay tại vùng sông Hồng.

Lễ mang dấu ấn cầu cho mưa gió thuận hòa, lá cây tốt nhất tươi, vụ mùa bội thu. Lễ này thực tế mang nghĩa rửa hận cho Hoàng Hậu Ngọc Hân. Tuy nhiên do trước đây lính nhà Nguyễn thắt chặt nên lễ này chỉ được đánh giá là lễ Mẫu và nước lấy về để thờ Mẫu Thoải quanh năm.

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Đền Ghềnh, nơi thờ phụng Bắc cung Hoàng hậu Tây Sơn, Ngọc Hân Công chúa

Review Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên ở đâu,lễ hội,kiến trúc 2021

279 den tho chu dong tu

Đền thờ Chử Đồng Tử ở đâu?

Đền Chử Đồng Tử có ở nhiều địa điểm trên nước nhà Việt Nam, nhưng ngôi đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, cách thức thủ đô hà nội chừng 25 km là địa điểm Thánh nhân Chử Đồng Tử – Tiên Dung gặp gỡ nhau lần thứ nhất. Khi du khách tới đây thưởng ngoạn như lạc vào chốn “bồng lai tiên cảnh”…

Địa Điểm: Đền Chử Đồng Tử thuộc địa bàn xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Di chuyển tới đền Chử Đồng Tử Hưng Yên như thế nào? 

Để rất có thể di chuyển tới đền Chử Đồng Tử Hưng Yên, bạn cũng luôn có thể chạy dọc theo con sông Hồng tầm 20km là sẽ tới bến Bình Minh, tại chỗ này di chuyển vào hai ngôi đền một cách thức dễ dàng và đơn giản và nhanh gọn. Ngoài ra nếu vận động và di chuyển xe du khách rất có thể đi ngang cầu Chương Dương, rẽ phải đi tầm 25km chạy dọc theo đường đê là sẽ tới đền Đa Hòa. 

Chử Đồng Tử ai đã?

Chử Đồng Tử là thiếu niên của Chử Cù vân, yếu tố hoàn cảnh hộ dân hai cha con rất nan giải. Sau khi nhà cháy, tài sản sót lại chỉ với độc tôn một cái khố, hai cha con phải thay nhau mặc. Không may, cha Chử mất, chàng thương tiếc cha và mặc trên người cha chiếc khố vải đó. Chử Đồng Tử ở trần truồng và kiếm lấn sâu vào đêm hôm.

Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên

Một hôm Chử Đồng Tử gặp công chúa Tiên Dung – con của vua Hùng Vương đời thứ 18, chàng và nàng đã kết duyên vk chồng ngay tại địa điểm hai người gặp nhau. Cha Tiên Dung không chấp nhận mối lương duyên này, công chúa đưa ra quyết định bỏ nhà theo Chử Đồng Tử lượn mọi chỗ.

Một hôm, hai người được mách nước bán hàng hoá, không ngờ thành phầm của nàng đẩy ra được không ít người yêu thích và trao đổi. Chử Đồng Tử đưa ra quyết định theo Tiên Dung, một hôm chàng đi đến ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên, chàng đưa ra quyết định ở lại học phép thuật của một người thầy là Phật Quang. Khi ra về, Phật Quang tặng kèm chàng chiếc gậy và chiếc nón lá bảo rằng này là vật thần thông, chàng phải cất giữ cẩn thận.

Khi Chử Đồng Tử về nhà gặp vk và nói hết mọi chuyện cho vk, công chúa Tiên Dung quyết tâm bỏ việc kinh doanh và theo chồng đến lớp đạo. Tới nửa đêm, hai người nghỉ chân tại chỗ không có những địa điểm nghỉ dưỡng, chàng bèn úp nón vào chiếc gậy, bỗng chống thành quách nguy nga, lính tráng theo hầu la liệt có mặt. Người dân cảm thấy lạ bèn thắp hương hoa lên cúng tế và xin làm tôi tớ. theo đó, địa điểm đây bỗng chốc nâng tầm phát triển như một nước riêng.

Vua Hùng nghĩ rằng, con định làm phản và cho quân phục kích. Tiên Dung cảm thấy vậy chỉ cười không nói gì, chỉ sau đó 1 đêm, thành quách mất hút và tới đó như một bãi đầm rất lớn. Dân làng thờ cúng là gọi đây là Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm). Kể từ đó, đền Chử Đồng Tử được lập nên và thờ cúng tới tận ngày nay

Thắm quan du lịch đền Chử Đồng Tử

Khám phá Đền thờ Chử Đồng Tử

Đền thờ Chử Đồng Tử thờ Đức thánh Chử Đồng Tử (1 trong những “Tứ bất tử” của tín ngưỡng người Việt) và hai vị phu nhân Tiên Dung Công chúa và Tây Sa Công chúa. Vị trí đây lưu truyền truyền thuyết về tình yêu và các chiến công của nhân dân Việt Nam chống giặc ngoại xâm, tiêu biểu như Triệu Quang Phục chống lại quân Lương; Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi chống quân Minh; nhiều trào lưu khởi nghĩa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đức thánh Chử Đồng Tử được thờ ở cả hai đền Dạ Trạch và Đa Hòa, tọa lạc ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, cách thức nhau không xa. Hai đền đó đều đã được được đứng thứ hạng di tích lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền cấp Quốc gia. 

Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên 1

Dự án công trình kiến trúc khu Đền Đa Hòa (địa điểm Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung gặp nhau) gồm 18 khu nhà ở mái ngói cong hình 18 thuyền rồng cách thức điệu. Chính là kiến trúc đặc thù nhằm mục đích tái hiện hoạt cảnh đoàn thuyền của công chúa Tiên Dung đang giăng buồm du ngoạn trên bến sông. 

Đền được thành lập trên một khu đất cao, bằng phẳng, hình chữ nhật. Bia đá có nội dung nói tới thời gian trùng tu đền Đa Hòa và cuộc nhân duyên kỳ ngộ của Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Ngôi đền càng được tôn thêm vẻ đẹp nhờ việc cổ kính, rêu phong, các cây cổ thụ bốn mùa xanh tốt nhất, xác định sự bất tử của đức thánh Chử Đồng Tử tương tự như mối tình tuyệt mỹ của ngài. 

Ngoài kiến trúc khác biệt, đền Ða Hoà còn lưu giữ nhiều di vật quý hiếm, điển hình nổi bật như: 3 cỗ ngai thờ được làm bằng gỗ. Đây được xem là các cỗ ngai cổ nhất còn tìm cảm thấy ở việt nam ngày này; đôi lọ Bách thọ bằng gốm có một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào…

Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên 2

Đền Dạ Trạch (Đền Hóa), nối sát với truyền thuyết Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, tọa lạc sâu trong vùng đầm Dạ Trạch, khoảng không rộng rãi. Phía sau đền vẫn còn giữ được một chút cây cổ thụ, tạo cho đền một vẻ đẹp thâm u, bí ẩn, thoát tục. 

Kiến trúc đền Chử Đồng Tử

Đền Chử Đồng Tử được nhân dân thành lập bao gồm 2 đền: đền Đa Hòa thuộc thôn Đa Hoà, xã Bình Minh và đền Dạ Trạch thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, Huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.. Cả hai ngôi đền đó đều thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân. Hai ngôi đền đó đều thành lập theo kiến trúc cổ nhưng có thêm sự khác nhau kha khá rõ ràng. Ngoài ra, trên khắp nước nhà Việt Nam còn sinh tồn nhiều địa điểm không chỉ có thế thờ Chử Đồng từ và Tiên Dung công chúa hay Hồng Vân công chúa.

Ngôi đền tọa lạc trên khu đất cao, rộng và bằng phẳng hình chữ nhật có diện tích khoảng 18.720m². Vị trí đây có phong cảnh đẹp, mặt quay hướng chính tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên. Tổng thể kiến trúc có 18 khu nhà ở mái ngói cổ như 18 chiến thuyền mũi cong đặc trung cho 18 đời vua Hùng.

Ngọ môn của đền gồm 3 cửa: cửa Chính là toà nhà 3 gian cao rộng, trên đỉnh nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt (chỉ mở cửa vào đại lễ). Hai cửa bên để đón quý khách gần xa. Qua sân Ðại là tới Ðại tế, toà Thiêu hương, cung Ðệ Nhị, cung Ðệ Tam và sau cuối là Hậu cung. Toà Thiêu hương có kiến trúc cao, thoáng, tráng lệ và trang nghiêm.

Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên 3

Những đầu đao, bờ nóc chạm trổ tinh vi, đắp gọt tỉ mỉ, Color bùng cháy rực rỡ cùng với rất nhiều hình bày diễn trang trí khác như rồng, sư tử. Cửa võng ở cung Ðệ nhị đều được chạm hình chim phượng, hoa cúc mãn khai và các hoa quả được sơn son thiếp vàng long lanh. Ðặc biệt các pho tượng đức thánh Chử Ðồng Tử và phu nhân được đúc bằng đồng cực kì xinh.

Ngôi đền đó được cho là địa điểm còn sinh tồn nhiều di vật quý hiếm nhất trong số đó có đôi lọ Bách thọ (một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào, khắc trên thành lọ bằng gốm), nó được xem là một cổ vật vô giá của dân tộc.

Lễ hội Chử Đồng Tử

Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức từ thời điểm ngày 10 tới 12 tháng hai âm lịch hàng năm. Lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung mang giá thành văn hoá sắc sảo, là bức họa về cuộc sống hết sức đa dạng và phong phú, sinh động của các người Việt cổ vùng đồng bằng trung du, trung du Phía bắc trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng triệu năm về trước. Đây không riêng gì là lịch sử một thời về tình yêu mà còn là bài ca về lòng hiếu thảo, về đạo làm người, là vật chứng của nền văn minh lâu năm của dân tộc Việt Nam.

Độc lạ nhất là lễ rước nước với việc ký dánh của 10 chiến thuyền nối đuôi nhau ra sông Hồng lấy nước về lễ Thánh tại đền Đa Hòa và Dạ Trạch. Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức ở cả hai đền, có không ít game show dân gian rực rỡ như: chọi gà, đấu vật, đu bay, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập liêu…, cùng với các mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ truyền thống như: múa rồng, múa lân, ca trù, ả đào, hát đối, hát văn, quan họ,…

Khám phá đền Chử Đồng Tử Hưng Yên 4

Lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung mang giá thành văn hoá sắc sảo, là bức họa về cuộc sống đa dạng và phong phú, sinh động của các người Việt cổ vùng đồng bằng trung du Phía bắc trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng triệu năm vừa qua. Đây không riêng gì là lịch sử một thời về tình yêu mà còn là bài ca về lòng hiếu thảo, về đạo làm ng­ười, là vật chứng cho nền văn minh lâu năm của dân tộc Việt Nam. 

Đền Chử Đồng Tử đã, đang và mãi mãi là 1 trong những các chỗ dựa cho sức sống bất tử ấy. Thời gian trải qua, nhưng truyền thống cổ truyền văn hoá dân tộc còn mãi không mờ, tâm linh người Việt vẫn luôn hướng về tổ tiên ông bà, hướng về cội nguồn và hướng về “đền Chử Đồng Tử – linh thiêng một tình yêu”.
 

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Khám phá du lịch Hưng Yên

Review Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên ở đâu,có gì,lịch sử,truyền thuyết 2022

lang nom 19 1

Sống sót hơn 200 năm tuổi, làng Nôm được biết đến như một “bảo bối” của vùng đất Hưng Yên. Nét đẹp trầm mặc này vẫn được gìn giữ tới tận ngày nay. Du lịch làng Nôm là cách thức mà đa số chúng ta lựa chọn để kiếm được bình yên trong con tim. Hãy cùng bietthungoctrai.vn tìm hiểu các nét trẻ đẹp của ngôi làng cổ này.

Làng Nôm Hưng Yên ở đâu?

Làng Nôm thuộc địa bàn xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, chỉ cách thức thủ đô thủ đô Hà Nội 20km. Này là một ngôi làng cổ được nhiều du khách ghé tới để search các nét trẻ đẹp xưa của miền quê Bắc Bộ. Vị trí đây nối liền với các cánh đồng lúa xanh bao la hay các căn nhà cổ có lịch sử vài trăm năm. Làng Nôm mang vẻ đẹp cố kính tới lở

Bước qua cánh cổng làng, du khách sẽ thật sự bất ngờ trước một khung cảnh làng quê có vẻ như bước ra từ trong trang sử. Đây là tấm hình của cây đa, cầu đá hay nhịp sống thân thương thấm đẫm tình người. 

Làng Nôm Hưng Yên - Có một miền quê bình yên và cổ kính đến thế

Ngay ở trọng tâm làng có một hồ nước rộng và trong, ở hai bên là các hàng cau được trồng thẳng tắp. Nổi trội, bao quanh hồ còn sinh tồn quá nhiều các bản vẽ xây dựng nhà cổ, nhiều đền thờ của các dòng tộc lớn nghiêng mình soi bóng bên mặt hồ. Hiện nay theo sổ sách cả làng chỉ từ khoảng hơn 10 căn nhà cổ và 7 thánh địa họ. 

Theo các bậc tiền bối của làng Nôm thì chưa chắc chắn tên làng được gọi từ bao giờ, chỉ biết rằng rất lâu rồi lúc trai gái dựng vk gả chồng đều phải cung tiến 20 mâm đồng, vài chục mét đường gạch đỏ cho làng. Đó cũng chính là các gì sót lại khi được nghe kể về lịch sử dựng nên của làng. Theo thông tin được biết, đình làng cũ được thành lập từ thời Hậu Lê, sau này được thành lập trùng tu bề thế hơn vào thời Nguyễn. 

 Di chuyển tới làng Nôm như thế nào? 

Để di chuyển tới làng Nôm Hưng Yên bạn hãy đi theo lộ trình sau: Trước tiên từ thủ đô Hà Nội di chuyển theo đại lộ 5 tầm 20km thì rẽ trái, liên tục đi khoảng vài cây số nữa là sẽ tới làng Nôm. 

Làng Nôm Hưng Yên - Có một miền quê bình yên và cổ kính đến thế

Làng Nôm- 200 năm bình lặng

Làng Nôm thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, cách thức thủ đô thủ đô Hà Nội khoảng 20km. Năm tháng trôi qua, làng Nôm vẫn là mảnh đất nền được cư dân Hưng Yên trân trọng, gìn giữ. Trước cuộc đời sống động, xô bồ, thật khó có những nơi nào mà họ cảm nhận thấy phẳng lặng tới vậy. Những nét trẻ đẹp bản vẽ xây dựng, văn hóa cổ truyền và con người vẫn vẹn nguyên sau cũng được hơn 2oo năm biến động.

Chính bởi vẻ đẹp “bền lâu” đó, du lịch làng Nôm Hưng Yên rất được rất nhiều người gây được sự chú ý đến. Dời xa phố thị, đến một làng quê bé dại, các bạn sẽ cảm thấy vừa quen và lạ. Quen như ở chính căn nhà mình, lạ bởi một miền đất mới. Ở làng Nôm, vẻ đẹp truyền thông dung dị như cây đa, giếng nước, mái đình vẫn được gìn giữ.

Qua cánh cổng làng rêu phong, khung cảnh bên phía trong làng mang đặc thù của làng quê cổ Việt Nam. Những khu căn hộ nhỏ bé đều nhuốm màu thời hạn, vận động thường nhật của các cư dân ra mắt bình lặng, yên ả. Cảm nghĩ rất chi là thoải mái và dễ chịu, thư thả.

Nét đẹp làng quê Bắc Bộ được lưu không thay đổi vẹn tại làng Nôm Hưng Yên 

Một điều gây điểm nổi bất gây chú ý rất mạnh đối với du khách khi ghé tới làng Nôm Hưng Yên đó chính là Vị trí đây đang lưu giữ quá nhiều di tích lịch sử cổ có niên đại hàng trăm tới hàng ngàn năm. Từ cổng làng, lối đi đến bức tường đều còn nguyên dạng. Về đây, du khách sẽ có cảm giác như hàng ngàn năm qua chỉ là một cơn mơ ngắn ngủi. Cho dù thời hạn có trôi qua bao lâu đi chăng nữa thì các chi phí tinh túy nguyên sơ nhất vẫn đã không còn biến hóa. Về làng Nôm ta cứ ngỡ mọi thứ như chưa xuất hiện gì thay đổi

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên


Toàn bộ làng Nôm Hưng Yên là một thể thống nhất bao gồm cổng làng, ao làng, nhà cổ, cầu đá và chợ quê. Xung quanh Vị trí đây vẫn đang còn đó các rặng tre cao ráo kẽo kẹt gió lay. Từng ngõ ngách của làng đều in đậm dấu ấn hồn quê,  đây là các con phố gạch đỏ, là hàng rào duối hiếm hoi, là các dãy bờ tường cũ kỹ,..

Ngày nay, cơn bão TP hóa đều len lỏi tới hầu như mọi vùng quê nhưng làng Nôm vẫn hiên ngang ở đó với các chi phí lịch sử không lúc nào bị mài mòn. Từng ngóc ngách trong làng đều in dấu ấn của lịch sử   Cây đa cổ thụ tọa lạc giữa sân làng

Không quá khi xác định rằng tại làng Nôm Hưng Yên cái gì cũng cổ. Từ cột đá, giếng nước, tới bản vẽ xây dựng đều sở hữu lịch sử ít nhất là 200 năm. Dọc bên ao làng, chính các căn nhà cổ hay thánh địa tổ tiếp nối nhau xen kẽ nhau đã tạo ra một vẻ đẹp hưng thịnh và choàng lên nét văn hóa cổ truyền độc nhất ở Vị trí đây.

Có khá nhiều du khách cực thích được tham quan các căn nhà ở làng Nôm bởi mặc dù đã được dựng nên từ rất lâu nhưng các dự án công trình này luôn để lại các dấu ấn vượt thời hạn khó phai mờ.  Vẻ đẹp hưng thịnh của làng Nôm   Những căn nhà cổ có lịch sử rất lâu năm

Điểm nổi bật độc lạ nhất của làng Nôm Hưng Yên có lẽ rằng chính là cây câu đá chín nhịp bắc qua sông Nguyệt để sang chợ Nôm. Cây cầu rộng khoảng 2m, được chạm trổ hình đầu rồng và ghép từ các phiến đá xanh nguyên khối. Phần chân và dầm cầu đã có nhiều niên sử hơn 200 năm. Cây cầu đá chín nhịp có niên đại 200 năm tuổi

làng Nôm

Tới làng Nôm Hưng Yên, du khách không riêng gì cảm thấy được nét trẻ đẹp lạc hậu qua các bản vẽ xây dựng cổ hay tấm hình cây đa, bến nước mà còn cảm thấy được qua nét sinh hoạt của các cư dân. Từ cách thức ăn diện tới lối sống đều vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.Người dân bản địa luôn giữ được nét văn hóa cổ truyền lâu năm trong lối sống sinh hoạt

Lịch sử thành lập làng Nôm

Không ai biết được rõ đúng cách chùa Nôm đã được thành lập từ lúc nào, chỉ thông qua các gì được ghi khắc trên bia đá, ta biết được rằng, chùa đã được cho thành lập lại vào các năm Canh Thân 1680 ở thời Hậu Lê. Tới đời Cảnh Thịnh 4, vào vào cuối thế kỷ 18, triều đình đã cho thành lập thêm gác chuông và được mở thêm hai 2 dãy hành lang rộng. Tới thời Ngyễn, chùa vẫn liên tục được tu sửa và mang vóc dáng như bây giờ. 

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên

Nhưng trong một số trong những dữ liệu thì chùa được thành lập vào các năm đầu công nguyên. Nhờ vào sự lan truyền của Phật giáo mà từ vùng đất cổ Luy Lâu, nhanh gọn lẹ biến thành một trọng tâm Phật giáo với dòng thiền được truyền dạy và thừa kế sang đất Văn Lâm như ngày nay. 

Một số trong những Phật tử, nhà nghiên cứu, nhà sử học đã điều tra từ truyền thuyết, thư tịch cổ và cho tới các văn bia cổ thì cảm thấy, trước đây, chùa Nôm – Linh Thông Cổ Tự từng được nghe biết là một chiếc am bé dại. Sau này, các sư trụ trì của chùa đã hưng công thành lập cùng với sự đòng góp lớn lớn của quần chúng bà con, nhân dân và khách tứ xứ đổ về. 

Truyền thuyết về chùa Nôm – Linh Thông Cổ Tự

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên1

Sở dĩ, chùa Nôm được cư dân trong làng gọi bằng tên gọi có phần mỹ miều là Linh Thông Cổ Tự là Chính bởi ngôi chùa này gắn kèm với một truyền thuyết đình đám, lưu truyền qua nhiều đời. 

Buổi đầu vào thời Hai Bà Trưng, có sư ông đang ngả lưng tại chùa Dâu thì bất ngờ, tới giữa đêm thì bị đánh thức mà hoàn toàn không rõ nguyên do. Sư ông thức dậy, tò mò ra ngoài thì phải hiện một ánh hào quang sáng rực khởi đầu từ phía Nam ngôi chùa.

Đoán là có điềm báo, sư ông mới men theo ánh hào quang, tiến thẳng vào rừng thông thì cảm thấy ánh hào quang này lan tỏa thành một quầng sáng. Đoán là Phật tổ tái thế, ban phước lành tới chúng sanh nên ông liền cho thành lập ngôi chùa tại vị trí đặt này và đặt tên là Linh Thông Cổ Tự. 

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên2

Theo một trong những trang sử đánh dấu, tên gọi Linh Thông Cổ Tự không riêng gì gắn kèm với truyền thuyết rất lâu rồi kia mà còn được giải thích theo đặc biệt ý nghĩa trong các con chữ. Nếu đọc theo âm Nôm, “thông” còn sinh tồn ý chỉ loại cây tùng, cây thông, thường có mặt trong các khu rừng rậm rậm trên các ngọn đồi, ứng với truyền thuyết chùa được xây trong rừng thông.

Nhưng nếu phiên theo Hán âm, “thông” còn sinh tồn có nghĩa là “xuân”, một loại cây lớn mà theo như Trạng Tử thì cứ 8.000 năm tới mùa xuân và 8.000 năm tới ngày thu, loại cây đó sẽ đâm chồi nảy lộc một lần, được cư dân áp dụng để chúc thọ. Hàm ý, Linh Thông Cổ Tự được ví như loại cây xuân sống lâu, sẽ thọ đến vạn năm và luôn đưa đến các điều an nhàn. 

Chợ Nôm- khoảng trống đậm chất quê

Du lịch Hưng Yên sẽ không hoàn toàn nếu du khách chưa ghé đến làng Nôm. Ngoài việc thưởng thức các món đặc sản nổi tiếng Hưng Yên, đến làng Nôm còn là cơ hội cho du khách điều tra về văn hóa cổ truyền con người Vị trí đây. Qua các bản vẽ xây dựng và các điểm đến thích thú.

Bước qua cánh cổng làng, chợ Nôm là địa chỉ mà bạn giành được tham gia trải nghiệm về chợ quê Việt Nam hoàn hảo nhất nhất. Chợ Nôm trước kia là khu chợ u ám và sầm uất nhất vùng Văn Lâm. Khu chợ đơn giản và giản dị, không bê tông cốt thép như các chợ trọng tâm thành phố.

làng Nôm

Những dãy nhà trong chợ phủ gạch, ngói rêu. Những mặt đường không nhiều nhưng rất tươi mới. Nằm trong chợ, giữa tiếng cười nói rôm rả của các cư dân, bạn như cảm nhận thấy yêu đời tới lạ.

Chùa Nôm- dấu ấn lịch sử

Một địa chỉ mềm mại và mượt mà khách tại làng Nôm đây là chùa Nôm. Ngôi chùa còn sinh tồn tên khác là Linh thông cổ tự. Theo nhiều dữ liệu chữ Hán, chùa được thành lập trên một đồi thông lớn, thời Hậu Lê. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các tượng phật đất sét nung trong chùa, thì nhiều nhà khảo cổ nhận định rằng ngôi chùa sinh tồn khoảng ngàn năm rồi.

Chùa Nôm có bản vẽ xây dựng Á Đông đậm nét, điển hình nổi bật của chùa cổ Việt Nam. Trong chùa lưu giữ hơn 100 pho tượng đất sét nung, điêu khắc tinh xảo. Ngôi chùa rất linh thiêng và được cư dân làng Nôm trân quý.

làng Nôm1

Những căn nhà ở làng Nôm cũng chính là Vị trí nhiều du khách đến tìm hiểu. Nhiều căn nhà có tuổi đời 200 năm, bản vẽ xây dựng độc lạ. Nền văn hóa cổ truyền Kinh Bắc chân thật và nhộn nhịp qua từng nếp nhà.

Chùa Nôm có gì?

Sở dĩ chùa Nôm biến thành một biểu tượng tín ngưỡng đối với các Phật tử Hưng Yên và thập phương không riêng gì là do sự linh thiêng của ngôi chùa mà ở chỗ này, vẫn còn đang gìn giữ, bảo tồn nhiều pho tượng cổ có chi phí lên tới hàng ngàn năm. 

Bia đá cổ

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên3

Trong đó, điểm nổi bất gây chú ý nhất có khả năng kể tới là bia đá được dựng vào trong ngày 2/2 niên hiệu Chính Hòa 21 vào các năm 1.700. Trên bia có khắc dòng tiêu đề “Linh Thông Tự Bi Kí”, tạm dịch là “Bài kí bia chùa Linh Thông”. Bia đá ở chùa được đúc theo 2 cấu trúc chính. Có tấm thì được đúc theo kiểu 2 mặt, có tấm thì được đúc theo kiểu 4 mặt công phu hơn. 

Bia đá ở chùa Nôm – Linh Thông Cổ Tự bao gồm bia Hậu Cố, bia Trùng Tu, bia Tháp Mộ, bia Cây Hương. Trên mỗi tấm bia đều ghi rõ lại niên đại của các năm trùng tu chùa, mốc thời hạn thành lập nhà Tiền Đường, thành lập Thiêu Hương, thành lập Hậu Đường và khoảng thời hạn tu sửa,  lan rộng tam quan và các dãy hành lang. 

Khu mộ tháp cổ

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên4

Khu mộ thấp cổ là một trong những các điểm vượt trội bản vẽ xây dựng nổi biệt, góp thêm phần cũng trở nên một chùa Nôm cổ kính, nghiêm trang. Toàn bộ khu mộ đều được thành lập hoàn toàn bằng đá ong cổ, được mài nhẵn, vuông vắn với các kích thước giống hệt, dấu hiệu được nét xin xắn và sự tỉ mỉ của các người nghệ nhân thành lập. 

Những phiến đá ong này sau lúc được giải quyết để được xếp chồng lên nhau tạo ra một ngọn tháp cô hẳn 3 tầng, tọa lạc yên mình giữa công viên xanh thơ mộng, bồng lai của chùa. 

Những pho tượng cổ

Ngoài ra, lúc đến viếng thăm chùa Nôm, ta cũng luôn có cơ hội nhìn ngắm lại tổng cộng 128 pho tượng cổ được thiết kế hoàn toàn bằng đất sét nung. Trong đó, đình đám có khả năng kể tới là bộ tượng Tam Thế Phât, tượng A Di Đà, tượng Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiển Bồ Tát và các tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. 

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên5

Ở kề bên đó, chùa còn bày diễn trang trí thêm nhiều pho tượng cổ tọa lạc chạy dọc theo đường đi ngoài hành lang, khiến khoảng trống càng góp phần tôn nghiêm khi khách thập phương đặt bàn chân vào lễ chùa. Song song đó, ở chỗ này còn sinh tồn pho tượng cổ của 18 vị la hán, mang một dáng dấp không giống nhau rất chi là sinh động và sắc sảo. 

Không các vậy, chùa Nôm còn đình đám với tượng phật tạt lại Hòa thượng Thích Thanh Tứ (1927 – 2011) có dáng dấp y cũng tương tự người thật. Này là vị chỉ huy trụ cột của Giáo hội Phật giáo Việt Nam rất lâu rồi. 

Khung cảnh và bản vẽ xây dựng

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên6

Không chỉ là một ngôi chùa cổ có chi phí cao về chi phí Phật giáo được dấu hiệu trong tuổi đời và các pho tượng cổ, bia đá cổ hay khu mộ tháp cổ mà chùa Nôm – Linh Thông Cổ Tự còn hỗ trợ người ta phải điểm nổi bất gây chú ý bởi nét trẻ đẹp cổ kính từ khung cảnh bao quanh cho đến bản vẽ xây dựng thành lập. 

Khung cảnh bao quanh chùa

Không chỉ trải qua làng nghề đúc đồng đình đám lâu năm của Hưng Yên mà lúc đến viếng chùa, du khách còn trải qua cánh cổng làng Nôm và qua một cây cầu đá tọa lạc kè sông Nguyệt Đức, cách thức cổng chính vào chùa chừng 500m. Này là cây cầu đình đám là một trong những các bản vẽ xây dựng cổ còn nguyên vẹn còn lại ở chỗ này.

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên7

Xung quanh sót lại thêm một cây gạo lớn, mọc sừng sững, đã có nhiều tuổi đời từ rất lâu. Cứ vào mùa tháng ba, tại cây hoa gạo đó sẽ bùng cháy sắc đỏ với các cành hoa gạo nở rộ cả một khúc ven sông. Không các vậy, ở kề bên chùa còn sinh tồn chợ Nôm, một khu chợ lâu năm đình đám, chuyên bày bán các hàng hóa bản địa rất chi là sống động, mang đậm Màu sắc phong cách thức chợ Việt Nam xưa.

Kiến trúc của chùa

Chùa có tổng diện tích lên tới 8ha kể cả các dự án công trình bên phía trong công viên xanh, vườn tháp và lầu Quan Âm. Khi vừa trải qua cây cầu đá bắc ngang hồ làm lối vào chùa, du khách sẽ nhanh gọn lẹ bắt gặp chính điện thờ Phật, phía đằng sau là Vị trí thờ thánh và Vị trí thờ Tổ, thờ Bác tọa lạc ở vị trí cuối cùng. 

 Cổng tam quan:

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên8

Vừa đã đặt chân đến nơi đó chùa, đặt vào mức mắt của du khách chắc như đinh được xem là cánh cổng tam quan được thành lập sang trọng, cổ kính và từng được ca ngợi là cánh cổng tam quan lớn và tốt nhất Đông Nam Á hiện nay. Cổng tam quan chùa được thiết kế hoàn toàn được làm bằng gỗ, được không thay đổi vẹn vẻ bên ngoài từ xưa tới nay, mặc cho bao lần chùa được tu bổ lại nhằm mục tiêu giữ lại các dấu ấn lạc hậu đặc thù của chùa Nôm. 

Sự sáng tạo và công phu trong lối bản vẽ xây dựng thành lập còn được dấu hiệu ở phần gác mái ở phía trên. Du khách có khả năng đi theo lên trên bằng cầu thang gỗ ở hai bên để ngắm nhìn và thưởng thức hàng loạt cảnh sắc chùa ở dưới. Phần mái của gác còn được lợp bằng mái cong có chạm trổ các hoa văn mềm mịn, tinh xảo đầy kỳ công mang Màu sắc trầm của gỗ, thể  hiện được nét cổ kính cho chùa. Trên đỉnh chóp mái còn được đắp phù điêu hình rồng rất sắc sảo và đầy tính thẩm mỹ.

Tháp chuông và mái vòm:

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên9

Phía trước chùa, ta sẽ bắt gặp một tháp chuông cao 3 tầng đồ sộ tọa lạc ở ở phía bên phải, đối lập khu lầu trống, soi bóng xuống mặt hồ. Tháp chuông ở chùa được thiết kế hoàn toàn được làm bằng gỗ với thân cột kèo lớn đầy vững bền, mang các hoa văn được chạm trổ rất rõ ràng. Tại tầng cuối tháp chuông để được treo một quả chuông rất lớn, có cân nặng lên tới 3 tấn.

Khuôn viên phía phía bên ngoài còn sinh tồn xây một mái vòm cao giành cho khách thập phương khi vào bái chùa thf chuẩn bị hương lễ, sắp lễ hoặc tạm ngưng dừng chân, ngắm cảnh. 

Chính điện:

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên10

Nổi trội hơn hết vẫn là chính điện của chùa có chiều dài 18m, rộng 4m và được chia thành 7 gian không giống nhau, được áp dụng làm Vị trí bái chính và lưu giữ các hiện vật của chùa. Ở ngôi chính điện chùa có dựng 2 cây cột gỗ lim rất lớn, mỗi dãy gồm 6 cột mang đậm cảnh sắc bản vẽ xây dựng xưa của Việt Nam. 

Ở gian giữa của chính điện còn đặt nhang án với 3 tấm hành phi lớn. Phía trước là cửa võng còn được chạm khắc chín con rồng đầy lừng lẫy, hai bên có tượng hộ pháp. Điểm nóng gian giữa còn sinh tồn treo 1 tấm hoành phi lớn khắc dòng chữ “Từ quan phản chiếu”, hai bên là hai cặp câu đối “Thiện ác trực thông tam giới địa” – “Thăng trầm phả độ thập hương nhân”. 

Nhà thờ tổ:

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên11

Nhà thờ tổ của chùa Nôm được thành lập vào các năm 2008, được hình thành từ 72 thân cột gỗ lớn, tạo thành hai lớp mái bề thế. Ở ở phía bên phải là gian thờ bác Hồ quản trị vĩ đại của Việt Nam. Từ đây đi ra, du khách sẽ bắt gặp cây cầu Quan Âm bắt qua mặt hồ nước bé dại rất chi là tiên lãng. 

Phía trước cầu là 2 lầu tháp cao tên là Cửu Phẩm Liên Hoa được thiết kế hoàn toàn bằng đồng. Phương thức lầu tháp không xa còn là khu vườn tháp, Vị trí triệu tập của nhiều tòa tháp cao làm bằng đá ong, trưng dụng làm Vị trí yên nghỉ cho nhiều bậc sư ni trong chùa. 

Thời Lê được ca ngợi là thời kỳ hoàng kim của Phật giáo Việt Nam, chính vì vậy mà Vị trí đây vừa đủ đi các dự án công trình bản vẽ xây dựng Phật giáo cổ mang nét trẻ đẹp cổ truyền, cổ kính và đầy tráng lệ. Trong số đó, không hề không nói tới chùa Nôm – Linh Thông Cổ Tự. Là một điểm đến mang chi phí văn hóa cổ truyền, lịch sử rất chi là cao, chùa Nôm – Ling Thông Cổ Tự hứa hẹn sẽ đưa đến cho các giáo đồ du lịch của Ximgo nhiều tham gia trải nghiệm tuyệt đối hoàn hảo, mang đầy đặc biệt ý nghĩa và tính mang tính nhân văn.

Tham Quan Làng Nôm Hưng Yên12

ĐẶC SẢN CỦA HƯNG YÊN NÊN THỬ

Tới Làng Nôm hay ngẫu nhiên địa điểm nào của tỉnh Hưng Yên, du khách đều sở hữu thể thưởng thức đặc sản nổi tiếng Hưng Yên và mua về làm quà cho người thân như: tương Bần, nhãn lồng Hưng Yên, gà Đông Tảo, chả gà Tiểu Quan, bánh cuốn Phú Thị, bánh dày làng Gàu, cá mòi, ếch om Phượng Tường…

Đến làng Nôm, các bạn sẽ cảm thấy con tim thanh tịnh lạ kỳ. Nếu có dự định đến du lịch Hưng Yên thì đừng bỏ qua Vị trí này nhé. Hãy cho bietthungoctrai.vn cảm thấy các tham gia trải nghiệm mới mẻ của bạn tại ngôi làng cổ 200 năm tuổi này.

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Làng Nôm- “bảo bối trăm năm”của vùng đất Hưng Yên

Review Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên ở đâu,về quy trình ,làng nghề 2022

gioi thieu lang nghe tuong ban hung yen

Giới thiệu làng nghề tương bần Hưng Yên 

Làng nghề tương bần Hưng Yên phương pháp thủ đô khoảng 25km thuộc thị trấn Bần Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Nghề làm tương ở đây đã có không ít từ rất lâu năm và nhiều người biết đến với mùi vị đậm đà, thơm ngon. Ngày trước đã có không ít không ít giáo đồ sành ăn xếp tương bần Hưng Yên vào danh sách các đặc sản nổi tiếng nổi trội nhất của Thủ đô.

Tương bần được thiết kế từ ngô, gạo, đỗ tương,… Đây hầu như là các nguyên vật liệu đơn giản và có sẵn ở nông thôn Bắc Bộ. Phương thức nấu tương khá đơn giản và dễ dàng nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ bởi thế mà tương bần ở đây ngon hẳn nếu như với các vùng khác. 

Làng nghề tương bần thuộc thị trấn Bần Yên Nhân, xã Mỹ Hào, Hưng Yên  Chính là một khu du lịch làng nghề nhiều người biết đến ở Bắc Bộ 

Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên

Hiện nay, làng nghề tương bần Hưng Yên có tầm 300 lao động theo nghề với mức nguồn thu khoảng 300k – 350k/tháng. Không giống với phương pháp làm tương truyền thống cổ truyền, cư dân tại làng hôm nay đã dùng nhiều máy móc công nghệ để tăng hiệu suất và chất lượng của đồ ăn. Nghề làm tương tại huyện Mỹ Hào đã tạo công việc cho hàng trăm ngàn người. 

Hiện nay có hàng trăm ngàn lao động vẫn đang khiến nghề nấu tương 

Đã đặt chân đến nơi đó làng nghề tương bần Hưng Yên, các bạn sẽ bắt gặp được cả dãy phố bán tương, nhà nhà làm tương. Có khá nhiều quầy bán ngay tại nhà, có quầy lại thuê mặt bằng lớn. Tương bần ở đây đều được các hộ gia trình trong làng chế tạo, họ được truyền nghề từ đời cổ. Với chất lượng hệt như lòng yêu nghề đã có không ít không ít hộ làm nghề nấu tương suốt hàng trăm năm. 

Vẻ đẹp bình yên của Làng nghề tương bần Hưng Yên

Làng nghề tương bần Hưng Yên – mùi vị ẩm thực ăn uống quê hương 

Nhắc tới làng nghề tương bần Hưng Yên là nói tới đặc sản nổi tiếng tương bần nhiều người biết đến. Xưa kia món nước chấm đó đã sử dụng để tiến vua và được không ít người yêu thích suốt bao đời nay. Tương bần Hưng Yên là đặc sản nổi tiếng rất chi là nhiều người biết đến 

Tương bần ở Hưng Yên mang đậm mùi vị quê hương với vị thơm của đỗ tương, gạo nếp, vị đậm đà của muối cùng sắc vàng nâu óng ánh. Cũng chính mùi vị đặc điểm ấy mà đồ ăn này đã biến đổi thành niềm tự hào của các cư dân bản địa và lấn sân vào thơ ca nhạc họa một phương pháp bỗng nhiên nhất. x

Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên1

Ngày nay dù thế gới có sự nâng tầm phát triển vươn tầm cùng các đồ ăn mới ra mắt càng ngày càng nhiều nhưng tương bần vẫn vẫn là một món nước chấm đã hết thiếu trong mâm cơm của nhiều hộ dân cư thôn quê Bắc Bộ. Với đa số chúng ta xa quê có khi chỉ cần nghĩ về một bữa cơm ấm áp có bát tương bần để chấm là sẽ muốn về quê ngay lập tức. 

Khảo sát quy trình làm tương tại làng nghề tương bần Hưng Yên 

Tới làng nghề tương bần Hưng Yên du khách sẽ có cơ hội được khảo sát về quy trình nấu ra món nước chấm thần thánh này. Nguyên liệu làm tương bần rất dễ tìm nhưng quá trình nấu thì khá tỉ mỉ và mất không ít thời hạn. Để có khả năng ban hành các bát tương thơm nức, vàng ươm thì đòi hỏi khá nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm của từng hộ hộ dân cư. Thời gian bình quân để nấu được 1 mẻ tương mất tầm khoảng 1 tới 2 tháng. Thời gian tương bần đạt độ chín nhanh hay lâu tùy thuộc khá nhiều vào điều kiện thời tiết nắng nhiều hay là không. 

Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên 2

Nấu tương gồm 3 quá trình đấy là cho xôi lên mốc, ngả đỗ và ủ tương. Trước tiên, người nấu sẽ cho nếp ngâm sạch rồi đem đi nấu chín thành xôi dẻo. Khi xôi chín thì xới ra nong, nia xong để khoảng 2 ngày 2 đêm tới khi xôi lên mốc vàng. Có khá nhiều hộ hộ dân cư còn ủ xôi trong lá nhãn hỗ trợ cho nếp dậy mùi hơn. Nấu xôi nếp xong để lên mốc vàng 

Tiếp tới sẽ lấy đỗ tương đi rang vàng. Hồi trước hầu hết quá trình này sẽ khiến thủ công, khi rang sẽ trộn cùng với cát cứu đỗ giòn, vàng và thơm hơn. Tuy nhiên ngày nay cư dân lấy đỗ tương rang bằng lò bánh mì vừa tiết kiệm thời hạn vừa tăng hiệu suất mà vẫn giữ được hương vị. Khi rang xong đỗ tương thì xay nhỏ dại rồi ngâm trong chum sành ngập nước trong khoảng 7 dến 10 ngày. Khi đỗ ngả sang gold color đỏ là được. 

Quá trình nấu tương bần phải thông qua nhiều quá trình tỉ mỉ  Đỗ tương là nguyên vật liệu chính để nấu tương bần 

Lấy nước đỗ tương ngâm trong chum sành tưới lên phần xôi nếp lên mốc thật đều xong để 1 ngày 1 đêm nữa. Đủ thời hạn thì cho nếp vào chum đỗ cùng với muối tinh khuấy đều và đưa đi phơi nắng. Nắng luôn là nhân tố quan trọng ra quyết định tới mùi vị thơm ngon của tương bần. Nắng càng lớn thì tương chín càng sánh, vàng. Nếu nắng yếu tương sẽ ảnh hưởng xỉn màu, mừi hương thấp hơn và lâu ngấu. Thế cho nên mà ngày hè đấy là thời gian làm tương bần lý tưởng nhất.

 Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên 3

Tương bần tại làng nghề tương bần Hưng Yên thường để được phơi nắng trong khoảng 1 tháng. Suốt thời hạn này người nấu phải theo dõi cẩn thận từng chum tương. Hằng ngày, phải mở chum khuấy đều, thêm nước. Khi trời nắng lớn thì phơi tương, nếu trời đổ mưa thì phải bao che lại để ngăn cản nước mưa lọt vào chum. Khuấy tương trong quá trình phơi nắng  Người dân cần phải “chăm bẵm” các chum tương rất cẩn thận 

Khi cảm thấy nước tương sánh lại thêm gold color đậm, vị ngọt đậm đà, hạt xôi nếp mềm ra thì tương đã ngấu. Hiện tại cư dân sẽn mang đóng chai và đem đi phân phối. 

Tương bần khi ngấu thì để được đi đóng chai rồi đem bán  Nước tương bần có gold color sánh đậm 

Cho dù thông qua biết bao thăng trầm của việc di chuyển thế gới nhưng cư dân làng nghề tương bần Hưng Yên vẫn luôn giữ, truyền lửa và đảm bảo nét trẻ đẹp của làng nghề truyền thống cổ truyền. Nếu có dịp du lịch Hưng Yên thì bạn hãy ghé thăm địa điểm này để tìm về các gì bình dị, thân thương nhất. 

 Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên 4

Làng nghề tương bần Hưng Yên Tinh hoa của đất trời

Làng Bần (nay thuộc phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) tọa lạc ở trọng tâm của thị xã Mỹ Hào – vùng đất vốn được khai khẩn từ thời các vua Hùng dựng nước. Khi ấy, địa chỉ đây vẫn còn là các triền đất, gò đống được bồi tụ từ dòng sông Hồng.

Do khí hậu thuận hòa, tình huống thổ nhưỡng đầy màu mỡ mà người dân tới tập tụ ngày một đông. Họ thường trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm và xen canh một số trong những hoa màu khác như: ngô, khoai, lạc, đỗ tương… Và cứ như thế, từ các hạt đỗ tương, hạt gạo thơm ngon, bổ dưỡng đã được những người dân nông dân “hai sương một nắng” địa chỉ đây nghĩ ra phương pháp làm nước chấm thơm ngon, đây chính là tương.

Trò chuyện với ông Ngô Xuân Triệu, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề tương Bần cùng theo đó là chủ một cơ sở đã có không ít 5 đời làm tương cho thấy, cư dân làm tương và dùng thứ nước chấm này trong bữa tiệc thường ngày từ thế kỷ XII-XIII. Không các thế, cùng với nhãn lồng, tương Bần còn là sản vật của vùng đất Hưng Yên được dâng lên đức vua. Tuy nhiên, trong thời hạn này, tương chủ đạo vẫn thực hiện ra để ăn, nhà nào cũng sẽ có, nhà này hết tương, tương còn chưa kịp ngấu (chín) thì có khả năng sang quán ăn xóm xin.

 Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên 5

Tương được thiết kế chủ đạo vào mức thời hạn từ thời điểm tháng ba tới tháng tám âm lịch vì đấy là các tháng đón nắng miền Bắc nhiều nhất. Theo ông Triệu thì làm tương cần nhất là phải “được nắng”, còn nếu như không tương sẽ ảnh hưởng khú (không đạt hương vị thơm ngon).

Khoảng thời hạn phơi nắng tương cũng đấy là phương pháp làm truyền thống cổ truyền để tương được ngấu một phương pháp bỗng nhiên, đã hết thay thế quá trình này bằng bất kể phương án nào khác. Do vậy, người làm tương sát bên tay nghề, bí quyết gia truyền còn đòi hỏi phải có sự kiên cường, tính nhẫn nại, sự tỉ mỉ, khéo léo.

Do tại này mà công việc tương ở làng Bần xưa kia thường nối sát với công việc nhà bếp núc và người nữ giới sẽ tiếp đón vai trò chính để khởi tạo ra thứ nước chấm đặc điểm này. Đời này truyền cho đời khác, các cô nàng ở làng Bần đều được các bà, các mẹ truyền dạy cho bí quyết làm tương ngon. Phụ nữ ở làng Bần không ai là chưa biết làm tương. “Làm tương cũng tương tự may vá, thêu thùa, khâu nón. Phụ nữ mà hoàn toàn không biết làm tương thì chưa đảm”, ông Triệu chia sẻ.

Dù rất không còn xa lạ với thứ nước chấm này nhưng người làng Bần đều không hay biết ai là người đầu tiên truyền dạy phương pháp làm tương trong vùng. Ông Triệu cũng chưa được kể lại, chỉ biết rằng từ ngày xưa, tương đã hiện hữu từng ngày trên các mâm cơm đoàn tụ của mỗi hộ dân cư làng Bần, nhìn cảm thấy quá trình thay đổi, tăng trưởng của từng mái nhà, con ngõ địa chỉ đây bằng mùi vị vẹn nguyên tự thuở những bước đầu tiên.

Vấn đề này khiến tôi chợt nhớ tới các câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Không ai nhớ mặt, đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Và việc tìm ra người đầu tiên đã không còn gì quá quan trọng nữa, bởi người nào cũng biết đây chính các bà, các mẹ, các chị tảo tần, đảm đang đã cần cù, chăm chỉ chắt chiu từng hạt gạo, hạt đỗ quê hương để triển khai ra thứ nước chấm bình dị này.

Thế cho nên, tương Bần là món gia vị mộc mạc, đậm chất quê hương nhưng cũng chính là “mỹ vị” đã làm rạng danh một vùng đất ven dòng sông Hồng.

 Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên 6

Đưa làng nghề tương bần Hưng Yên ra phố

Tương Bần chính thức biến thành hàng hóa kinh tế vào mức thời hạn thời điểm đầu thế kỷ XX, nối sát với việc lan rộng ra của các tuyến đại lộ 5 thủ đô – Hải Phòng. Tư duy làm kinh tế, nâng tầm phát triển chính hiệu tương Bần cũng từ đây manh nha rồi uy lực. Người đầu tiên mang dòng sản phẩm tương Bần đóng chai ra bán trên trục đường 5 là cụ bà Thân Thị Lựu vào các năm 1935 – 1940.

Từ thuở thiếu thời cụ Lựu đã nhiều người biết đến trong làng là người đảm đang, khéo tay, làm tương ngon. Lại cảm thấy nhà ngay mặt đường 5, từng ngày người xe qua lại đông đúc, hàng hóa bày ra cái gì cũng thu hút khách nên cụ bạo dạn bày bán thử mấy chai tương của nhà làm ra.

Không ngờ, người dùng truyền tai nhau, khách tới hỏi hàng ngày một đông, người mang lại cho hộ dân cư thưởng thức, người dùng làm quà biếu cố hữu gần xa. Nhận cảm thấy tiềm năng nâng tầm phát triển, cụ đã lan rộng ra chế tạo và đặt chính hiệu cho tương của mình là Cự Lẫm, biến thành chính hiệu đầu tiên của tương làng Bần.

theo đó, tương Bần càng ngày càng được không ít khách hàng trong và ngoài nước yêu thích. Minh chứng bằng sự việc càng ngày càng có khá nhiều chính hiệu tương của làng Bần ra mắt, càng ngày càng không ít hộ hộ dân cư lựa chọn chế tạo và kinh doanh tương như một nghề chính tạo nên nguồn thu cho hộ dân cư.

Sau Cự Lẫm là các chính hiệu cũng nhiều người biết đến không hề thua kém như Dân Sinh, Minh Quất, Triệu Sơn, Hường Đạt, Đoàn Thoa… Chế tạo tương hiện giờ đã biến đổi thành một nghề truyền thống cổ truyền của bản địa. Số hộ hộ dân cư còn nghề hôm nay đã thu hẹp lại mà chuyển dời sang hướng nhiệm vụ hóa, chế tạo triệu tập với quy mô lớn ở một số trong những cơ sở có truyền thống cổ truyền lâu năm.

Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên 1

Được biết thêm, hôm nay Hiệp hội làng nghề tương Bần có 17 hộ hộ dân cư hội viên, trong số đó có 5 hộ chế tạo quy mô lớn, sản lượng hàng trăm ngàn lít/năm, tổng sản lượng của tất cả phường Bần Yên Nhân hôm nay khoảng trên 2 triệu lít/năm. Ở ở kề bên này còn sống sót không ít hộ kinh doanh tương Bần trên địa phận với quy mô lớn nhỏ dại khác biệt, rất phong phú.

Rất có khả năng nói từ một thứ gia vị bình dị, tương Bần đã biến đổi thành một loại sản phẩm nòng cốt cứu cư dân địa chỉ bản địa thoát nghèo. Nghề làm tương không riêng gì tăng nguồn thu cho hộ dân cư mà nhiều cơ sở còn tạo thêm nhiều công việc cho lao động bản địa. Vào chính vụ tương từ thời điểm tháng ba tới tháng tám, mỗi cơ sở chế tạo tương Bần thường cuốn hút 15-20 lao động với mức nguồn thu 5-7 triệu đồng/tháng.

Cứ thế, một đặc sản nổi tiếng của vùng quê Bắc Bộ vươn xa tới với mọi miền của Tổ quốc, ra mắt đến bạn bè, khách quý gần xa về một thứ nước chấm kết tinh trong số đó rất đầy đủ tinh hoa của trời đất gồm cả bàn tay, khối óc của các người nhà quê chân chất, thật thà. Có lẽ rằng, cũng chính vì như thế mà tới nay đã có không ít không ít chính hiệu tương Bần nâng tầm phát triển và nhiều người biết đến song thực khách vẫn chỉ quen thuộc với tên thường gọi “Tương Bần”, thứ nước chấm được cư dân làng Bần kỳ công làm ra bằng các sản vật của làng. 

Khi được đặt ra những câu hỏi về sự không giống nhau của tương làng Bần nếu như với một số trong những vùng khác như tương Cự Đà, Đường Lâm (thủ đô) hay tương Nam Đàn (Nghệ An), ông Lê Đình Đạt, chủ một cơ sở chế tạo tương Bần cho thấy: “Con người vốn khác, đất đai, hạt gạo, hạt đỗ vốn khác cho nên mà tương cũng khác”.

Theo ông Đạt thì tương Bần là nước chấm đơn giản thật đấy nhưng làm ra nó thật rất khó. Tuyệt kỹ được người làng Bần truyền nhau để triển khai ra thứ tương vàng như mật, vừa thơm ngọt, vừa bùi, vừa ngậy đấy là khâu chọn nguyên vật liệu.

Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên 2

Nếp cần là nếp cái hoa vàng, đỗ tương cần là đỗ ré (hạt nhỏ dại vừa, chắc mẩy) trồng đất bãi, muối cần là muối biển Hải Hậu, chum phải mua từ làng Thổ Hà (Bắc Giang) và nước phải được lấy từ giếng Đanh của làng (nước ở đây ngọt, lại trong vắt). “Ngày nay, việc lựa chọn nguyên vật liệu cũng đổi khác không ít để đáp ứng nhu cầu nhu yếu kinh tế hóa trong chế tạo tương nhưng mấy đời nay vẫn vậy và tương lai cũng đã hết khác, đây chính là kinh nghiệm làm tương”, ông Đạt nhấn mạnh vấn đề.

Về làng Bần giờ đây, du khách sẽ ngỡ ngàng bởi sự chuyển dời và nâng tầm phát triển uy lực của nền kinh tế. Tuyến đại lộ 5 chia đôi thị xã Mỹ Hào, trong số đó có phường Bần Yên Nhân tình cờ thu xếp nên các khối hình rất phong phú của việc nâng tầm phát triển.

Một bên là sự việc lan rộng ra của các khu chế xuất nhẹ, như: Phố Nối A, Phố Nối B, Thăng Long II… đã cho chúng ta thấy bước nâng tầm phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa uy lực. Một bên là làng Bần phẳng lặng với các dãy dài chum tương đón nắng, các cửa hiệu bày bán tương Bần luôn sôi động kẻ bán người dùng.

Truyền thống và hiện đại đan cài đấy là bức họa đồ kinh tế – thế gới hôm nay của phường Bần Yên Nhân. Nó đã cho chúng ta thấy con người địa chỉ đây rất năng động, sáng tạo, đơn giản thích ứng và bắt kịp với Xu thế nâng tầm phát triển của thế gới. Những đứa con của làng quê nay đã vươn ra biển lớn để tự thử thách và hoàn thành xong bản thân, đóng góp vào công cuộc dựng xây quê hương, tổ quốc càng ngày càng giàu mạnh.

Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên 3

Chọn hướng đi bền lâu cho làng nghề tương bần Hưng Yên

Phát triển từ xuất xứ truyền thống cổ truyền là 1 hướng đi vững chắc, tuy nhiên để hướng đến nâng tầm phát triển bền lâu ngành nghề kể riêng và bản địa nói kết luận thì không riêng gì gây được sự chú ý đến góc độ giá cả kinh tế của làng nghề mà còn cần góp vốn đầu tư nâng tầm phát triển toàn diện cả góc độ văn hóa truyền thống cổ truyền – thế gới.

Giá trị của tương Bần không riêng gì tọa lạc ở lệch giá kinh tế mà nó mang về mà còn tọa lạc ở văn hóa truyền thống cổ truyền bản địa, nhân tố truyền thống cổ truyền kết tinh trong dòng sản phẩm. Chính điều này mới cũng trở nên sự đặc điểm và nổi tiếng cho dòng sản phẩm. Mỗi thực khách khi thưởng thức tương Bần không riêng gì là cảm thấy về một loại nước chấm bằng vị giác mà còn là cảm thấy về một vùng đất nhiều người biết đến, địa chỉ có các con người nhiều người biết đến với văn hóa truyền thống cổ truyền chế tạo tương Bần có từ lâu năm.

Chính bởi thế, khai phá và dẫn vào nâng tầm phát triển du lịch làng nghề, quảng bá khoảng không văn hóa truyền thống cổ truyền làng nghề là 1 hướng đi bền lâu cho làng nghề tương Bần. Đó cũng chính là hướng đi để bắt kịp với gia tốc TP hóa đang ra mắt nhanh gọn lẹ ở Mỹ Hào hệt như trên toàn quốc.

Tham Quan làng nghề tương bần Hưng Yên 4

Rất cần sự cần phối kết hợp, lan rộng ra giữa nâng tầm phát triển kinh tế ngành nghề với khai phá du lịch làng nghề. theo đó thành lập quy mô nâng tầm phát triển bền lâu, vừa làm kinh tế vừa làm du lịch, quảng bá văn hóa truyền thống cổ truyền bản địa và khoảng không văn hóa truyền thống cổ truyền làng nghề. Đây cũng chính là hướng đi thích hợp để lưu giữ và nâng tầm phát triển các làng nghề truyền thống cổ truyền kể riêng và các giá cả văn hóa truyền thống cổ truyền truyền thống cổ truyền nói kết luận trong toàn cảnh hội nhập và ảnh hưởng tác động của nền kinh tế thị trường.

Mặt còn lại, để ngành chế tạo tương Bần biến thành một ngành hàng mũi nhọn của bản địa và lan rộng ra thị trường xuất khẩu thì nhiệm vụ hóa trong chế tạo rất cần được được tăng mạnh. Dựng nên vùng chuyên canh nguyên vật liệu sạch cho chế tạo là bước đệm để tấn tới truy xuất xuất xứ hàng hóa. Có như thế, tương Bần mới có khả năng vươn xa không chỉ có vậy và nghề truyền thống cổ truyền này mới có khả năng nâng tầm phát triển bền lâu, đưa đến giá cả kinh tế cao cho bản địa.

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Vẻ đẹp bình yên của làng nghề tương bần Hưng Yên

Review Tham Quan làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên ở đâu và vẻ đẹp của làng nghề 2022

lang thu sy hung yen

Với khoảng phương pháp rất gần Thủ đô thành phố Hà Nội, du khách có khả năng tìm về làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để tìm hiểu bức họa đồ thôn quê phẳng lặng với chuyển động đan đó lâu năm. Đây được coi như nơi đến lựa chọn lý tưởng trong hành trình tìm hiểu vùng đất nhãn lồng Hưng Yên. 

Làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên ở đâu?

Làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên phương pháp trọng tâm thành phố khoảng 7km nhiều người biết đến với nghề đan đó truyền thống cổ truyền. Ngày nay địa chỉ đây không riêng gì biến thành nơi du lịch văn hóa truyền thống cổ truyền thích thú mà còn là biến thành cảm giác nghệ thuật và thẩm mỹ vô tận của nhiều nhiếp ảnh gia nội địa lẫn quốc tế. 

 Tham Quan làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên

Từ bao đời này, ngành nông nghiệp luôn gắn sát với cuộc sống của các vùng nông thôn Việt Nam. Cạnh bên việc cày cấy thì người nông dân luôn tìm phương pháp tăng tài sản xuất, đánh bắt cá tôm để cải tổ cuộc đời. Trong tiến độ chế tạo đó, người nông dân đã ý tưởng ra nhiều loại công cụ tiện lợi trong số đó phải đặt tới chiếc rọ để đánh bắt cá tôm.

Này là một loại dung cụ truyền thống cổ truyền của nhiều nhà nông ở các tỉnh đồng bằng trung du Bắc Bộ. Nguyên liệu chính để khởi tạo thành một cái đó chỉ gồm tre, nứa đan lại cùng nhau thế nhưng bây giờ đây không riêng gì là loại ngư cụ lâu năm mà còn được dùng trong bày diễn trang trí nghệ thuật và thẩm mỹ và làm đẹp hay đồ bên trong. 

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê

Tại huyện Tiên Lữ, Hưng Yên có một làng nghề Thủ Sỹ chuyên chế tạo các loại đó với khoảng 500 người làm nghề và triệu tập ở hai thôn và Nội Lăng và Tất Viên. Những chiếc đó tại làng Thủ Sỹ hiện tại đã được đem đi tiêu tốn ở khắp các tỉnh thành phía Bắc và xuất khẩu đến một trong những đất nước trên xã hội. 

Tới làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên như thế nào? 

Để tới làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên bạn bắt đầu từ trọng tâm Thủ đô thành phố Hà Nội đi theo đường đại lộ 5 và tỉnh lộ 200 tới xã Thủ Sỹ, Tiên Lữ. Tiếp tục đi theo đường 61 từ chợ Ba Hàng để tới làng nghề Thủ Sỹ truyền thống cổ truyền. 

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 1

Vẻ đẹp làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên 

Làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên hiện lên với bức ảnh một làng quê đậm chất Bắc Bộ. Địa chỉ đó có các căn nhà mái ngói cũ kĩ, các nếp nhà ba gian cổ hay các lũy tre làng tạo ra một khung cảnh miền quê yên tĩnh, yên ả. Tới với làng Thủ Sỹ, du khách thập phương sẽ cảm nhận được sự bình dị rất chi là thân thương. 

Vui chơi quanh làng vào các ngày nắng đẹp, các bạn sẽ bắt gặp được ở các khoảng sân nhà là các đóa hoa bằng tre nứa rất chi là bắt mắt. Ngoài ra du khách còn sống sót cơ hội để được gặp gỡ với những người dân dân chất phác, hiếu khách và được nghe họ kể về tiến độ làm đó hay các câu truyện về xóm làng thật thân mật. 

Ghé thăm làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên du khách sẽ sự thật bị thuyết phục trước bức ảnh thật đơn giản và giản dị ở miền quê lam lũ các rất đỗi trong trẻo. Đây chính là các chiếc xe chở đó buộc thành từng chùm lớn như một lọ hoa khổng lồ được những người dân dân trong làng chở đi bán hay là cảnh tượng các cụ công cụ bà, trẻ bé dại quây quần trước hiên nhà vừa chuyện trò rôm rả vừa đan các chiếc đó tre. Cục bộ đều đưa tới dư vị bình yên, đầm ấm trong lòng mỗi du khách. 

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 2

Nguyên liệu cũng trở thành Làng nghề đan đó tại Thủ Sỹ Hưng Yên 

Nghề đan đó rất cần sự khéo tay và tỉ mỉ nhưng ở làng Thủ Sỹ thì từ các cụ công cụ bà tới trẻ em 5 – 6 tuổi cũng tồn tại thể đan được chiếc đó. Dạo quanh làng sẽ đơn giản và dễ dàng bắt gặp các khoảng sân treo đầy đơm, đó, rọ được buộc thành chùm như các lọ hoa bằng tre khổng lồ.

Nguyên liệu để chế tạo ra các chiếc đó thông thường là tre, nứa già được chuyển từ rừng về. Trước tiên, người thợ phải sử dụng dao để chẻ các thanh nứa, thanh tre thành các loại nan, tiếp sau đó vót thật đều và mỏng dính. Thường quá trình đó sẽ do nam giới tiến hành bởi tốn khá nhiều công sức. Nan sau lúc được chẻ, vót mỏng dính thì được chia nhỏ ra để đan thành dòng sản phẩm. Để khởi tạo độ bền, người thợ mang nan đã phơi khô đi hun khói, hoặc chọn phương pháp đan thành phẩm xong rồi gác lên phòng bếp để hun khói. Bởi vậy, các chiếc đó có màu nâu cánh gián rất đẹp.

Làng nghề đan đó tại Thủ Sỹ Hưng Yên 

Người dân ở làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên đã gắn bó với nghề đan đó từ rất lâu, khoảng hơn 2 thế kỷ và đây cũng chính là nghề nghiệp đem lại nguồn thu chính cho cư dân làng. Một cái đó trắng khi được hoàn thành để được xuất kho với giá khoảng 20k – 25k/chiếc. Nếu là chiếc đó màu nâu cánh gián để được xuất kho với giá 30k – 40k/chiếc. 

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 3

Tới bất kì hộ hộ dân cư nào tại làng nghề Thủ Sỹ du khách đều phải sở hữu thể bắt gặp được bức ảnh những người dân dân ngồi trước sân thoăn thoắt đan các chiếc đó đơn giản và giản dị. Nghe các cụ kể lại ở Thủ Sỹ nhà nào thì cũng đan đó, đan cả ngày mà hoàn toàn không cảm nhận mệt bởi đây là khoảnh khắc các thành viên trong hộ dân cư được ngồi cùng nhau cười cười nói nói rất chi là vui vẻ. Cả làng Thủ Sỹ khi đan đó khi nào cũng rộn ràng tiếng chẻ tre,… Vào trong ngày thu hoạch cư dân sẽ thường đan đó vào buổi chiều tối. 

Nghề đan đó rất cần sự khéo tay và tỉ mỉ nhưng kỳ lạ rằng ở làng Thủ Sỹ ai ai cũng tồn tại thể tạo nên thành phẩm. Từ các cụ công cụ bà tới các trẻ em 5 – 6 tuổi đã có không ít thể thoăn thoắt đan đó để đem đi bán tốt rồi. Nhiều cư dân trong làng nói đùa cùng nhau rằng họ biết đan đó từ lúc còn trong bụng mẹ. 

Nguyên liệu để chế tạo ra các chiếc đó thông thường là tre nứa già được chuyển từ rừng về. Trước tiên người thợ phải dùng dao thật khéo để chẻ các thanh nứa, thanh tre thành các nan đan các loại. Mỗi loại nan sẽ có các kích thước không giống nhau tính chất phải vót thật đều và mỏng dính. Thường quá trình đó sẽ do nam giới tiến hành bởi tốn khá nhiều công sức. Nan sau lúc được chẻ nhỏ gọn thì được chia nhỏ ra để nghệ nhân dùng đan thành dòng sản phẩm. Để đan đó người nghệ nhân phải sự thật khéo léo và tỉ mỉ

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 4

Ngày nay, trái đất có sự nâng tầm phát triển mạnh mẽ và uy lực theo phía hiện đại hóa, các ngư dân cũng tồn tại các chuyển đổi trong cách thức đánh bắt cá bởi thế các ngư cụ truyền thống cổ truyền đã ít được dùng hơn. Tuy nhiên, nghề đan đó ở làng Thủ Sỹ Hưng Yên vẫn không còn bị mai một đi. Trước đây đó chỉ là một ngư cụ bình dân các hiện tại nó đã biến đổi thành dòng sản phẩm được ựa chuộng trong thiết kế kiến thiết đồ bên trong, bày diễn trang trí nghệ thuật và thẩm mỹ và làm đẹp để khởi tạo nên một khoảng trống đậm chất thôn quê. 

Dòng sản phẩm đó sử dụng để bày diễn trang trí đồ bên trong không riêng gì được nghe biết nội địa mà còn được thị trường nước ngoài yêu thích. Dòng sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước như: Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Ấn Độ. Dòng sản phẩm ngày nay đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên xã hội

Hàng năm, Thủ Sỹ vừa ý khoảng 650.000 dòng sản phẩm cho các tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang… địa chỉ có các cánh đồng chiêm trũng và nhiều kênh mương, sông ngòi. Đó ở Thủ Sỹ có tầm khoảng 3, 4 loại, trong số đó, loại này được hun màu nâu cánh gián có mức giá 30 – 40.000 đồng/chiếc, còn đó trắng 20.000 đồng/chiếc.

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 5

Đan đó tuy chỉ là nghề phụ ở Thủ Sỹ mọi khi nông nhàn, nhưng lại đưa tới 50% nguồn thu cho cư dân trong xã, cứu cư dân có một khoản nguồn thu không chuyển biến để dàn trải cuộc đời. Cụ Lương Sơn Bạc sẻ chia: “Những cụ thời xưa đêm đan đó, sáng sớm mang đó ra chợ bán để nuôi con ăn học. Tôi cũng thế. Ngày này một tháng nguồn thu được đôi triệu, cuộc đời đủ sinh hoạt. Nhờ cái đó đó mà con cháu trưởng thành”.

Làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên ngày nay

Ngày nay, trái đất càng ngày càng nâng tầm phát triển, ngư dân cũng dần chuyển đổi phương pháp đánh bắt cá hiện đại nên các ngư cụ như đó đã không còn gì được dùng thoáng đãng. Tuy vậy, nghề đan đó ở Thủ Sỹ không bởi vậy mà bị mai một. Từ một ngư cụ bình dân, hiện tại, các chiếc đó, chiếc rọ biến thành 1 mặt hàng rất được ưa chuộng trong ngành nghề nghệ thuật và thẩm mỹ và làm đẹp, đồ bên trong, tạo ra một khoảng trống độc lạ đậm chất thôn quê.

Đặc biệt, bây giờ, dòng sản phẩm đó để bày diễn trang trí đồ bên trong không riêng gì rất được ưa chuộng nội địa mà còn được xuất khẩu ra nước ngoài như Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ… Cụ Lương Sơn Bạc cho biết thêm: “Khi đưa bóng đèn bày diễn trang trí vào phía trong, có gió thổi đung đưa rất đẹp. Khách ở Mỹ hay nhiều nước khác họ cực thích. Khách ở Ấn Độ cũng mới về đây mua hàng. Tôi phải tinh lọc hàng tốt nhất nhất. Cầm cái đó phải mềm mại, khách họ cực thích”.

Đến làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê 6

Tới với Thủ Sỹ, khách phương xa sẽ cảm nhận được nét rực rỡ riêng có của làng quê này. Nhất là vào các ngày nắng đẹp, khắp các khoảng sân của mỗi nhà là các đóa hoa bằng tre, nứa thật bắt mắt được tạo ra từ các chiếc đó bình dị. Ghé thăm Thủ Sỹ, du khách để được gặp gỡ các con người chất phác, hiếu khách và được tham gia trải nghiệm việc tự tay vót nan, đan đó từ cư dân làng.

Về thăm làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên là một phát minh tuyệt đối cho các ai đang muốn tạm xa cuộc đời đô thành, tìm về miền quê bình yên và tìm hiểu các điều bình dị. 

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Tới làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên để cảm nhận nét đẹp hồn quê

Review Làng nghề chạm bạc Huệ Lai Hậu Giang ở đâu,lịch sử,sản phẩm 2021

21A05054 1 1

Làng nghề chạm bạc Huệ Lai ở đâu?

Làng nghề chạm khắc bạc Huệ Lai thuộc làng Phù Ủng, huyện Hưng Yên. Ở chỗ này không riêng gì nhiều người biết đến với các dự án công trình phong cách xây dựng uy nghi, mà du khách tới thăm còn được tham gia trải nghiệm các các bước làm ra các sản phẩm trang sức quý rất chi là độc lạ và tinh xảo.

Di chuyển tới Làng nghề chạm bạc Huệ Lai

Phù Ủng là một làng cổ thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, tọa lạc ở hướng bắc của mảnh đất nền ngàn năm văn hiến. Làng Phù Ủng tọa lạc ở ngã 3 đường về Hưng Yên, Thành Phố Hải Dương và đại lộ 5A. Hướng tiếp cận xã Phù Ủng từ giữa trung tâm thành phố thủ đô Hà Nội rất có khả năng dịch rời theo 3 con phố căn bản:

Hướng trước tiên từ thủ đô Hà Nội đi Phố Nối 14 km qua Thị trấn Ân Thi rẽ trái đi thêm 8 km; Hướng thứ hai từ giữa trung tâm Thị xã Hưng Yên ngược đường 39A về Trương Xá (Kim Động) rẽ phải đi 4 km qua Thị trấn Ân Thi đi thêm 8 km; Và hướng thứ ba từ đại lộ 5A tới Quán Gỏi (Thành Phố Hải Dương) đi tiếp 3 km.

Làng nghề chạm bạc Huệ Lai Hậu Giang

Lịch sử nâng tầm phát triển làng Phù Ủng

Theo các dữ liệu thư tịch cổ, bia ký, sắc phong, tục lệ, địa bạ và các dữ liệu lịch sử ảnh hưởng thì Phù Ủng xưa là một thôn lớn cầm đầu hàng xã, hàng tổng. Với điểm đặt địa lý quan trọng, từ lâu trong lịch sử, Phù Ủng đã là vùng đất mua bán kinh doanh sôi động, trung chuyển văn hoá giữa các vùng miền.

Lịch sử Đảng bộ huyện Ân Thi tập 1 (1930 – 1954) có viết: “Quá trình dựng nước và giữ nước, các dân cư ở đây đã khai thác đất đai tạo hình thành quê hương giàu xinh đẹp như ngày nay. Thời truyền thống, mảnh đất nền đây là đất của Lạc Long Quân, thời Bắc thuộc mảnh đất nền này thuộc quận Giao Chỉ, Giao Châu, Đằng Châu…”. Những tên làng của huyện Ân Thi còn tới ngày nay như: Chu xá, Đào xá, Ngô xá, Lưu xá, Đỗ xá, Lã xá, Đặng xá, An Trạch… cũng đã cho chúng ta biết Ân Thi là mảnh đất nền có lịch sử – văn hóa truyền thống cổ truyền lâu năm.

“Phù Ủng là một làng quê cổ của vùng đất Ân Thi, Hưng Yên. Địa thế căn cứ vào thần tích các làng, xã đã cho chúng ta biết từ thời Hùng Vương, người dân vùng đó đã khá đông đúc, là Vị trí phân phối lực lượng lao động và vật lực cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và cuộc chiến tranh bộ tộc” .

Ngày nay, làng Phù Ủng thuộc xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Tên làng Phù Ủng từ khi được thành lập đến thời điểm này không chuyển đổi, còn tên xã Phù Ủng, từ sau Phương pháp mạng Tháng Tám 1945 đến thời điểm này đã có nhiều quá nhiều lần chuyển đổi để thích hợp với việc chủ tịch hành chính bản địa. Năm 1945, xã Phù Ủng đổi thành xã Thành Thái. Năm 1947, xã Thành Thái đổi thành xã Hoàng Hữu Nam. Năm 1954, xã Hoàng Hữu Nam đổi thành xã Đô Lương.

Năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra ra quyết định số 344/NQ-TVQH hợp nhất 2 Tỉnh Thành Phố Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, cùng theo đó hợp nhất 10 huyện và thị xã của Hưng Yên thành 4 huyện và 1 thị xã của tỉnh Hải Hưng, huyện Ân Thi và Kim Động của Hưng Yên được hợp nhất thành huyện Kim Thi của tỉnh Hải Hưng (1979).

Trang sức đến từ làng nghề vàng bạc nổi tiếng Huệ Lai.

Và trong thời hạn này, xã Đô Lương đổi thành xã Phù Ủng, huyện Kim Thi, tỉnh Hải Hưng. Tới năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập. Nhằm hoàn chỉnh các cơ quan hành chính và theo ý kiến đề xuất của cộng đồng nhân dân tỉnh, ngày 27/1/1996, Chính phủ ra ra quyết định số 05/CP tách huyện Kim Thi thành hai huyện: Ân Thi và Kim Động. theo đó cho đến bây giờ làng Phù Ủng thuộc xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Khởi sắc của làng nghề Huệ Lai sau lúc có nghề vàng bạc

Trước đây thôn Huệ Lai có 95% dân sinh sống chủ đạo bằng nghề nông nghiệp, cuộc sống nhân dân gặp nhiều khó khan. Song thì khi có sự nâng tầm phát triển của nghề trạm vàng bạc, cư dân đã thêm nghề phụ, cải tiến nguồn thu, nâng tầm phát triển kinh tế. Tay nghề của các người thợ cũng được cải tiến rõ ràng, các sản phẩm dần có độ tinh xảo không chuyển biến.

Nổi bật của nghề kim hoàn rất hà khắc, bởi nghề này không riêng gì đòi hỏi sự cần mẫn cần mẫn mà con đòi hỏi đôi bàn tay tài hoa khéo léo, óc sáng tạo để trổ các hoa văn, hình tiết trên các sản phẩm vàng bạc.

Trang sức đến từ làng nghề vàng bạc nhiều người biết đến Huệ Lai.

Như ông Pham Xuân Đinh 69 tuổi, đã có nhiều 21 năm trong nghề tâm sự” “ Muốn biến thành một người thợ kim hoàn giỏi, chế tác được các hàng hóa theo có nhu cầu của khách trước hết thì người thợ phải có năng khiến, cần mẫn và sáng tạo mới gắn bó được lâu hơn với nghề”.

Tổ chức cơ cấu làng, xã, thôn Làng nghề chạm bạc Huệ Lai

Xã Phù Ủng hôm nay có 8 thôn, bao gồm: thôn Phù Ủng, thôn Huệ Lai, thôn Sa Lung, thôn Phương La, thôn La Mát, thôn Đồng Mái, thôn Hồng Lương và thôn Kim Lũ.

Trong các năm qua, cùng với sự gây được sự chú ý chỉ huy của Huyện Ủy – HĐND – UBND huyện Ân Thi và các ban ngành của huyện, sự chỉ huy của Đảng Ủy, sự giám sát của HĐND, sự điều hành của UBND và sự phấn đấu của cán bộ và nhân dân, tình hình kinh tế và trái đất chung của xã nâng tầm phát triển khá nhanh với nhiều thành tựu.

Văn hóa truyền thống cổ truyền truyền thống cổ truyền làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Lịch sử nâng tầm phát triển nghề truyền thống cổ truyền

Nghề chạm bạc tại thôn Huệ Lai

Theo điều tra, chạm bạc không hẳn nghề gốc của làng nghề Huệ Lai. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, một vài đứa con của Huệ Lai sang học nghề chế tác vàng bạc tại làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Thành Phố Hải Dương và mang nghề về làng. theo đó cư dân Huệ Lai nghe biết cái nghề cần sự tỉ mỉ, cần mẫn và đôi bàn tay khéo léo này.

Được dựng nên từ thời điểm năm 1992, các ngày đầu, nghề chạm bạc chỉ lôi cuốn được vài chục hộ ký dánh. Năm 1998, hợp tác xã vàng bạc Phù Ủng được thành lập do ông Đỗ Xuân Chuyển làm chủ nhiệm nhằm mục tiêu link các nghệ nhân và người làm nghề lại cùng nhau.

Sau một khoảng thời gian bản lĩnh gắn bó, cùng nhau nâng tầm phát triển và có được các thành tựu không chuyển biến, năm 2003, thôn Huệ Lai, xã Phù Ủng được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên công nhận là làng nghề. Sản phẩm chạm bạc của hợp tác xã đã được cục Công nghiệp bản địa, bộ Công thương reviews là 1 trong các các sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của vị trí phía Bắc năm 2014.

Tuổi nghề của làng Huệ Lai đến thời điểm này đã được gần 30 năm. Hiện có trên 200 hộ hộ dân cư với trên 1000 lao động ký dánh. Có các thời kì, nghề chạm bạc công việc làm ăn phức tạp, sa sút, không ít hộ bỏ nghề. Tuy nhiên được sự giúp sức của huyện Ân Thi, các ủy và chính quyền sở tại xã Phù Ủng đã tiến hành đề án nâng tầm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hàng năm mở lớp giảng dạy nghề chạm bạc, lôi cuốn nhiều người trẻ tuổi tại bản địa tới học nghề, mở xưởng chế tạo, tạo nên các sản phẩm có chất lượng.

Đề án nâng tầm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở xã Phù Ủng phát huy tác dụng đã tạo trường hợp cho làng nghề chạm bạc thôn Huệ Lai phục hồi và nâng tầm phát triển. Với việc nhậy bén, bàn tay khéo léo, bản lĩnh cần mẫn, kiên trì của các nghệ nhân ở thôn Huệ Lai đã sáng tạo nên nhiều mẫu sản phẩm phong phú, mớ lạ và độc đáo, đáp ứng nhu cầu có nhu cầu của thị trường, đóng góp phần cũng trở thành chính hiệu của làng nghề chạm bạc Huệ Lai.

Làng nghề chạm bạc Huệ Lai Hậu Giang 1

Những loại sản phẩm truyền thống cổ truyền

Là một làng nông nghiệp truyền thống cổ truyền, những người dân nông dân ở đây đã bao đời gắn bó với cây lúa và đồng ruộng. Từ thời xưa, cư dân Phù Ủng chủ đạo sống bằng nghề làm ruộng, 1 năm hai vụ chiêm, mùa. Đề phòng các khi chiêm khê mùa thối, cư dân làng Phù Ủng còn trồng thêm các loại rau xanh và hoa màu như ngô khoai.

Kinh tế thuần nông ở Phù Ủng luôn luôn luôn được tăng mạnh bằng sức lao động cơ bắp của con người, sức kéo của gia súc (trâu bò). Cho nên tư tưởng của các cư dân Phù Ủng kể riêng cũng tương tự của dân cư nông nghiệp kết luận là “đông con đông của”, “con trâu là đầu tư mạnh nghiệp”, dần dần trong quy trình lao động chế tạo, cư dân đã đúc kết được kinh nghiệm thâm canh, kinh nghiệm trồng trọt qua các câu ca dao tục ngữ, phổ biến trong dân gian và dễ thuộc:

“Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”

Hoặc:

“Sâu cấy lúa, cạn gieo bông

Chẳng ươm được đỗ thì trông khoai ngô”

Đây đây là một cách thức chế tạo chung cho tất từ đầu đến chân dân làm và sống bằng nghề nông nghiệp. Sự gắn bó “một nắng hai sương” với đồng ruộng từ bao đời nay đã đem lại cho cư dân Phù Ủng các kiến thức kinh nghiệm canh tác lúa nước từ khâu thiết yếu nhất của quy trình chế tạo như “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” tới kinh nghiệm luân canh, xen canh giữa lúa và hoa màu.

Ngoài nghề nông chủ yếu, trước đó làng còn sinh tồn nhiều nghề phụ như đan sọt, vận thừng, đan chổi, chạm bạc… làm kinh tế phụ lúc nông nhàn. Hiện nay, trong khu di tích lịch sử đền Phù Ủng vẫn còn mô Quả thừng, tương truyền là dấu tích khi xưa thuở còn hàn vi Phạm Ngũ Lão thường ngồi xếp bằng tròn kề bên đường cái quan chẻ tre đan sọt. Phù Ủng nhiều người biết đến với đặc sản nổi tiếng “Gạo Đồng Đỗ – nước giếng Đình – cá rô Đầm Sét – nước mắm Vạn Vân”.

Những loại sản phẩm thừa kế, mới

Từ khi triển khai công cuộc thay mới của Đảng, cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong làng được thổi lên rõ ràng. Trong làng đã không còn diện tích hoang hóa, hàng loạt diện tích canh tác đều được cơ giới hóa như máy cày, máy tuốt lúa. Hệ thống tưới tiêu thuận lợi, triển khai vừa đủ quá trình kĩ thuật thâm canh thời vụ, dự báo, dự thính phòng trừ sâu bệnh.

Sản phẩm chạm bạc làng nghề Huệ Lai

Nhân dân trong làng có các hình thức hợp tác xã trong nâng tầm phát triển kinh tế. Đoàn kết bổ trợ nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng thông qua vận động và di chuyển tổ chức cơ cấu cây cối, vật nuôi và nâng tầm phát triển nghề phụ (Thương mại dịch vụ đáp ứng chế tạo tiêu áp dụng, nghề mộc, nghề nề… ) khích lệ việc chăn nuôi gia súc, gia cầm nâng tầm phát triển kinh tế và nuôi cá tận dụng diện tích mặt nước ngọt (ao, hồ, sông ngòi..) rộng lớn.

Nhờ sự nâng tầm phát triển kinh tế, Phù Ủng đã có lúc từng bước thành lập được cơ sở vật chất cho vận động văn hóa truyền thống cổ truyền thông tin, thể dục thể thao nhằm mục tiêu chuyển đổi bộ mặt nông thôn, mỗi bước cải tiến cuộc sống tinh thần cho nhân dân.

Từ một làng với 95% dân sinh chủ đạo làm nông, sau lúc nghề chạm bạc được mang từ làng Châu Khê – Thành Phố Hải Dương về, tổ chức cơ cấu convert từ nông nghiệp sang thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã dần được phát huy, đưa đến cơ hội nghề nghiệp cho rất đa số chúng ta dân trong làng.

Trải qua hơn 20 năm bảo trì và nâng tầm phát triển nghề chạm bạc, từ một làng nghề với tay nghề còn non, con số người ký dánh còn ít và mô hình còn bé dại lẻ, Huệ Lai đến thời điểm này đã biến thành một làng nghề chạm bạc với mô hình khá lớn với đáng tin cậy và chất lượng vươn xa tới các tỉnh thành cả trong và ngoài nước, đem lại mức nguồn thu không chuyển biến cho cư dân trong làng, đóng góp phần nâng tầm phát triển kinh tế hộ hộ dân cư và kinh tế của xã tăng thêm đáng kể.

Quá trình chế tạo các sản phẩm truyền thống cổ truyền

Giai đoạn 1: Chuẩn bị chất liệu

Bạc được chuẩn bị sẵn, phân chia và kiểm tra kĩ càng để không lẫn tạp chất, bảo đảm 100% bạc nguyên chất.

Sau khi có nguyên vật liệu, bạc được dẫn vào khuôn để chuẩn bị cho các quá trình kế đến.

Giai đoạn 2: Giải quyết chất liệu

Trong nghề chế tác trang sức quý bạc đòi hỏi ở người thợ rất cần phải có sự bản lĩnh cùng nhẫn nại trong từng các bước mới rất có khả năng cho ra các sản phẩm đẹp và tinh xảo. Một thành phẩm đẹp và ưng ý với người sử dụng bắt buộc phải thông qua 4 quá trình:

  • Trước tiên là tạo mẫu – quá trình quan trọng nhất. Ở trong phần này các ý tưởng phát minh sơ khai nhất về một mẫu trang sức quý mới để được dựng nên.
  • Tiếp theo người thợ sẽ khởi tạo mẫu sáp hưu, khi làm nhẫn thì mẫu nhẫn để được xuất ra và được khắc trên sáp cứng. Những khuôn sáp này rất có khả năng có màu xanh ngọc hoặc xanh cây lá sậm màu, được gia công thủ công thủ công bằng tay hoặc máy.
  • Tiếp theo là các bước cắm cây thông – bơm sáp đổ thạch cao, đun chảy kim loại, đổ khuôn và cắt cây thông ra khỏi sản phẩm thô, hoàn thành, gắn đá và đánh bóng sản phẩm.
  • Cuối cùng là kiểm tra chất lượng sản phẩm. Chính là các bước quan trọng, bảo đảm độ đúng cách dán và tay nghề chế tác hoàn hảo và tuyệt vời nhất. Các bước đó sẽ cấu thành giá cho sản phẩm trang sức quý được gia công ra.
Giai đoạn cắm cây thông

Nổi bật của nghề kim hoàn rất hà khắc, bởi nghề này không riêng gì đòi hỏi sự cần mẫn cần mẫn mà con đòi hỏi đôi bàn tay tài hoa khéo léo, óc sáng tạo để trổ các hoa văn, hình tiết trên các sản phẩm vàng bạc. So với các quá trình trên đều phải có các có nhu cầu kỹ thuật bắt buộc:

  • Tiến hành phân kim loại để xi mạ phải bảo đảm đúng triển khai đúng kĩ thuật đáng tin cậy để bảo đảm sức mạnh và né tác hại. Khi nấu kim loại để đúc hay chế “hội”, phải cam kết và tính toán lượng kim loại để nấu thật kĩ, tùy thuộc theo có nhu cầu về độ tinh khiết nhiều hay ít, né thừa thải gây lãng phí, hao hụt.
  • Khi dùng kim loại quý, điều quan trọng là né các chất liệu khác (không tọa lạc trong tính toán) hòa lẫn vào kim loại và hợp kim.
  • Có nhu cầu về độ nhẵn bóng được nêu ra là không hề nhỏ, ngay từ khâu gia công làm nguội, hay cắt gọt, cưa, giũa, uốn … đều phải thật kỹ càng càng để mặt phẳng kim loại không biến thành trầy xước, các các loại thiết bị như kẹp, búa, giũa … cũng cần phải có độ bóng phù hợp và đúng chuẩn mức.
  • Quá trình hàn phải luôn phủ lớp trợ dung (thuốc hàn) để không làm ảnh hưởng tới các phần còn sót lại của món sản phẩm do bị biến dạng nhiệt. Ngoài ra, quy trình làm sạch các phần oxy hóa bằng dung dịch axit cũng cần phải chăm chú độ ẩm và nồng độ, né để vật bị axit hòa tan do nồng độ rất cao. Những thao tác rót, rửa phải đúng và đúng cách dán.

Ở quá trình nhúng bạc vào H2SO4 cho bạc làm nên trắng hơn:

  • Quá trình làm sạch các phần oxy hóa bằng dung dịch axit, người lao động phải rất chăm chú tới độ ẩm và nồng độ, né để bạc bị axit hòa tan do nồng độ rất cao.
  • Acid sôi sẽ giải phóng hơi ni-tơ, đấy là loại khí rất tác hại và ô nhiễm nếu như với sức mạnh và các đồ đạc trong xưởng. Người lao động cần tinh nhuệ nhất kim loại ở Vị trí được thông gió cực tốt, dùng mặt nạ thở và găng tay nổi biệt để bảo đảm đáng tin cậy lao động.

Dự án công trình di sản truyền thống cổ truyền làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Đền thờ Phạm Ngũ Lão

Đền thờ Phạm Ngũ Lão

Trong làng có hệ thống di tích lịch sử lịch sử – văn hoá đền Phù Ủng. Chính là Vị trí thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão, người có công lao lớn nếu như với dân làng và giang sơn. Khu di tích lịch sử đền Phù Ủng gồm nhiều dự án công trình phong cách xây dựng có giá thành lịch sử và thẩm mỹ:

Đền thờ Phạm Ngũ Lão, đền Mẫu (thờ mẹ Phạm Ngũ Lão), lăng Phạm Tiên Công (thờ cha Phạm Ngũ Lão), lăng Vũ Hồng Lượng, chùa Cảm Ân, Phủ Chúa, Khuê Văn Những… và nhiều cảnh sắc phụ cận khác có ảnh hưởng tới cuộc sống và công danh sự nghiệp của Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Năm 1988, đền được công nhận là di tích lịch sử lịch sử – văn hoá cấp đất nước. Chính là niềm tự hào của dân làng Phù Ủng bao dòng đời nay.

Khu di tích lịch sử Phù Ủng là một quần thể phong cách xây dựng có mô hình rộng lớn, bao gồm phần đây là đền thờ Phạm Ngũ Lão và nhiều dự án công trình phong cách xây dựng phụ trợ hợp thành. Di tích có vị trí phân bổ rải rác, đan xen với khu người dân và dọc theo trục đường của làng.

Theo thuyết phong thủy, cụm di tích lịch sử đền Phù Ủng tọa lạc trên khu đất đầu rồng (dân gian tương truyền: đền tọa lạc cạnh con sông Cửu Yên uốn lượn như một con rồng uốn khúc, mà đầu rồng là khu đất dựng đền).

Đền Ủng tọa lạc ở ở vị trí chính giữa của làng, thoáng mát, thoáng rộng với các tán cây cổ thụ, phối hợp với chùa, phủ, lăng tẩm, ao Chạ, ao Tầm Sét, giếng Ngọc, mô Gò… tạo thành cụm di tích lịch sử ảnh hưởng tới sự việc thờ phụng Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ở chỗ này có sự xen giữa truyền thống cổ truyền và hiện đại, giữa các kiểu phong cách xây dựng phong phú tính chất phóng đãng ở ở vị trí chính giữa của làng. càng tô thêm nét đẹp cảnh sắc và di tích lịch sử lịch sử văn hóa truyền thống cổ truyền làng Phù Ủng.

Lăng Phạm Tiên Công

Quần thể đền thờ làng Phù Ủng

Phương pháp đền thờ Phạm Ngũ Lão khoảng 100m về hướng nam là lăng mộ cụ Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão). Lăng xây theo kiểu hình kiệu long đình có tắc môn, cột đồng trụ và hai tâm môn hai bên, bao vây thềm lát đá xanh. Sau lăng là mộ xây tròn. Tiếp sau là hậu bành – Vị trí thờ cúng tổ tiên ông bà. Tương truyền, trước mặt lăng xưa kia có 7 mô đất tọa lạc rải rác tạo thành chùm thất tinh (các cụ nói đấy là Vị trí rèn luyện võ nghệ của Phạm Ngũ Lão) hôm nay 7 mô đất này đã không còn nữa.

Đền Mẫu (Đền Nhũ Mẫu)

Đền Mẫu thờ mẹ Phạm Ngũ Lão, tọa lạc phía ở bên phải trước cổng đền Ủng (bên kia đường Cán Cờ). Ngôi đền có phong cách xây dựng thời Nguyễn, ba gian Tiền tế, hai gian Hậu cung, trong đền có tượng mẹ của tướng quân Phạm Ngũ Lão được tạc được làm bằng gỗ. Ngoài ra, còn sinh tồn bốn pho tượng người hầu bằng đá lấy từ bên ải Chi Lăng (TP Lạng Sơn).

Chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ

Từ khu đền ngoài, theo đường làng đi khoảng 300m về hướng phía đông là tới khu chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ – con gái Phạm Ngũ Lão.

Tam quan chùa Cảm Ân được xây theo kiểu phong cách xây dựng chồng diêm hai tầng tám mái, lợp ngói ta với tám góc đao cong lên thanh thoát nhẹ dịu.

Lăng Vũ Hồng Lượng

Tọa lạc trong quần thể di tích lịch sử đền Phù Ủng phải nói tới dự án công trình thẩm mỹ điêu khắc đá tiêu biểu thời Lê (thế kỷ XVII), đó đây là lăng Quốc công Vũ Hồng Lượng. Lăng thành lập theo như hình chữ nhật, chất liệu bằng đá xanh. Những tác phẩm bày diễn trang trí ở đây gồm nhiều danh mục đa dạng và phong phú và phong phú.

Nổi bật có 4 pho tượng đá mô tả văn võ thành 2 cặp đặt 2 bên lăng, mỗi cặp được chạm nổi cùng chung một phiến đá có đường nét thăng bằng sinh động, ẩn chứa cái lanh lợi, hóm hỉnh của dân gian. Những bức phù điêu chạm nổi tứ linh tứ quý, chim thú, hoa lá của các nghệ nhân đương thời.

Chùa Tứ Ân

Là một ngôi chùa tọa lạc ở thôn Kim Lũ, ngay kề bên nhà Văn hóa truyền thống cổ truyền thôn Kim Lũ, rất có khả năng coi đấy là ở vị trí chính giữa của thôn.

Di sản phi vật thể làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Hưng Yên – Phố Hiến có cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú với Nguyệt Hồ thơ mộng vang bóng thuở nào, ôm trong lòng và bao vây nó là một mạng lưới chen chúc các điểm du lịch phố cổ và làng cổ của xứ nhãn lồng, có truyền thống cổ truyền đánh giặc của du kích Hoàng Ngân và truyền thống cổ truyền văn hoá của Phố Hiến xưa – “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đây thật là một vùng quê sơn thuỷ hữu tình, địa linh nhân kiệt.

Về thăm Phù Ủng – quê nhà đất của Tướng quân Phạm Ngũ Lão – một anh chàng có sức mạnh và nghị lực phi thường, đã về quê ngày đêm rèn luyện võ nghệ chờ ngày triều đình tuyển chọn quân cấm vệ. Chuyện kể rằng: Từ sáng sớm tinh mơ cho đến khuya, trên bãi cỏ ven làng không mấy lúc vắng mặt Phạm Ngũ Lão. Từ môn cưỡi con Ngữa bắn cung tới côn, quyền, roi, kiếm, Phạm Ngũ Lão đều thành thạo điêu luyện.

Chỉ độc tôn môn cắp giáo nhảy qua tường hào, Phạm Ngũ Lão luyện mãi vẫn chưa ưng ý. Được dân làng bổ trợ, Phạm Ngũ Lão đắp một chiếc gò đất ở ven làng để tập nhảy. Riêng việc đắp gò cũng chính là một việc để Phạm Ngũ Lão tập mang nặng. Cứ ba sọt đất đầy ăm ắp, Phạm Ngũ Lão nhấc bổng lên vai bước thoăn thoắt từ thùng đầu lên đỉnh gò, trong khi tất cả chúng ta khác, người khỏe nhất cũng chỉ mang được hai sọt.

Thời gian sau, một gò đất lớn đã nổi dậy lù lù ở ven làng. Ngày nào cũng thế, từ sáng sớm, Phạm Ngũ Lão đã có nhiều mặt ở chân gò, dần dần chạy lên đỉnh rồi lại nhảy xuống, hoặc chống sào nhảy qua gò. Sau mấy ngày rèn luyện Phạm Ngũ Lão đã nhảy qua gò một cách thức đơn giản dễ dàng. Nhưng không tạm ngừng ở đó, Phạm Ngũ Lão mặc quần dài rồi cho đất vào ống quần buộc túm lại để tập nhảy.

Trong mấy ngày đầu, đôi bàn chân của Phạm Ngũ Lão như bị gắn chặt xuống đất. Nhưng khổ cực không đẩy lùi được quyết tâm của Phạm Ngũ Lão. Từ ngạc nhiên, phức tạp tới thân thuộc, lượng đất tăng dần cho tới ngày hai ống quần căng đầy, và khi ấy gò đất cũng mòn vì gót chân của Phạm Ngũ Lão.

Tới khi bỏ đất ra, Phạm Ngũ Lão cũng thấy người lâng lâng nhẹ dịu, nhảy qua gò như phượng hoàng nhảy qua đỉnh núi. Giờ đây bức tường thành sừng sững trong sân trường Giảng Võ không còn gì đáng sợ với Phạm Ngũ Lão nữa.

Ngày nay, bao vây làng vẫn còn dấu vết của các gò đất gọi là mô Đai, mô Quả Thừng, mô Thần Đồng… là công dụng khổ luyện “đắp gò tập nhảy” của anh chàng họ Phạm. Cùng theo đó, các mô đất đó cũng chính là công lao đắp đê ngăn sông, đắp đất lập làng của các người anh hùng Phạm Ngũ Lão và dân làng Phù Ủng.

Cuộc đấu tranh với thiên nhiên giới thiệu tiếp tục, từ dòng đời này sang dòng đời khác đã tôi luyện nên phẩm chất cực tốt đẹp cho con người Phù Ủng đức tính cần mẫn, cần mẫn giàu nghị lực, lanh lợi, sáng tạo, lòng yêu quê hương giang sơn, mà biểu tượng Phạm Ngũ Lão là biểu tượng cho con người Phù Ủng.

Danh nhân: Trong các Đình, chùa/ Cán bộ Văn hóa truyền thống cổ truyền xã

Phù Ủng không riêng gì là đất võ mà còn là đất văn. Trong làng còn lưu giữ 4 tấm bia đá lớn ghi danh xưng và công danh sự nghiệp các bậc đỗ đại khoa trong làng từ thời Lê tới thời Nguyễn.

Vũ Vinh Tiến: sinh vào năm Canh Thân, Vĩnh Tộ đầu tuần (1620) đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) khi mới 21 tuổi, làm quan tới chức Tự khanh, tước Bá, khi mất được truy Tặng Kèm tước Tử. Khoa này còn có 6000 sĩ tử tham dự cuộc thi, chỉ lấy đỗ 22 tiến sĩ, có nghĩa là 273 người tham dự cuộc thi thì mới có thể lấy đỗ 1 người, nhưng Vinh Tiến vẫn trúng tuyển.

Phạm Trứ: sinh vào năm Giáp Dần, Cảnh Thịnh đầu tuần (1794), đỗ Đình Nguyên khoa Nhâm Thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Khoa này lấy đỗ 8 tiến sĩ, 3 phó bảng, do không lấy Tam Khôi, nên Phạm Trứ tuy đỗ đầu nhưng chỉ được xếp ở hàng Hoàng Giáp, thế cũng chính là một vinh dự cho truyền thống cổ truyền hiếu học của một làng quê.

Lễ hội

Lễ hội làng Phù Ủng

Cuộc sống văn hoá dân gian của dân làng Phù Ủng khá đa dạng và phong phú. Bên cạnh kho báu các câu ca dao, tục ngữ nói tới cuộc đời lao động chế tạo, về tình làng nghĩa xóm,…. làng Phù Ủng còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về Phạm Ngũ Lão, một vị tướng tài ba dưới đời Trần, một vị thánh trong lòng nhân dân.

Thời Nguyễn có cử nhân Vũ Huy Thịnh biên soạn cuốn Ngọc phả của Trần triều Điện soái Phạm Ngũ Lão, được phong là Phúc thần Chiêu cảm đại vương dựa theo truyền thuyết trong vùng. Cuốn Ngọc phả này hiện được lưu giữ tại đền thờ Phạm Ngũ Lão ở Phù Ủng – Ân Thi – Hưng Yên và được Thư viện Hán Nôm dịch.

Lễ hội đền Phù Ủng là vận động văn hóa truyền thống cổ truyền lớn nhất trong năm của làng, được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lão. Ngoài ra còn sinh tồn lễ Kỳ An (Kỳ Yên) mà cư dân làng Phù Ủng quen gọi là Kỳ Anh. Những bậc bô lão trong làng cho thấy thêm: Lễ đó được triển khai ở chùa làng nhằm mục tiêu mục tiêu cầu mong sự bình yên cho dân, làng Phù Ủng và cùng theo đó triển khai 1 phần ở đình để tế thánh và chúc thọ các bậc cao niên trong làng.

Ẩm thực ăn uống, sản vật nổi trội

Là một ngôi làng Bắc Bộ truyền thống cổ truyền, làng Phù Ủng có các nét sinh hoạt văn hoá vật chất hệt nhau với nhiều làng quê khác trên mảnh đất nền Ân Thi, Hưng Yên kể riêng và đồng bằng ven biển Bắc Bộ kết luận, được biểu thị qua nếp ăn, ở, mặc, đi lại…

Do trường hợp bỗng nhiên, cách thức chế tạo quy cách bữa tiệc của các cư dân làng Phù Ủng cũng tương tự bữa tiệc truyền thống cổ truyền của dân tộc “Cơm + Rau + Cá”. Hưng Yên là tỉnh độc tôn ở đồng bằng ven biển Bắc Bộ không còn núi, không còn biển, cho nên nhân tố “rừng”, “biển” rất mờ nhạt trong mỗi bữa tiệc của các cư dân. Ngược lại, nhân tố “vườn”, ao hồ sông nước lại biểu thị trông rất rõ ràng như gà, lợn, vịt, ngan, tôm, cua, cá…

Gần giống các làng quê khác ở đồng bằng ven biển Bắc Bộ, trên mâm cỗ thờ cúng tổ tiên ông bà ngày Tết được bày biện đa dạng và phong phú hơn mọi hôm, và không bao giờ thiếu đi một cái bánh trưng truyền thống cổ truyền mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống cổ truyền Việt.

Nghệ thuật màn trình diễn

Những mô hình diễn xướng dân gian đa dạng và phong phú vừa làm sinh động thêm cuộc sống đời thường của các cư dân, vừa là phần đã hết thiếu trong phần hội của hội làng, với thẩm mỹ hát trống quân đã biến thành một nét đẹp văn hóa truyền thống cổ truyền lâu năm.

Những phong tục, tập quán tiêu biểu (cưới hỏi, lễ hội, hương ước, mối quan hệ dòng tộc, láng giềng…)

Cuộc sống văn hoá tâm linh của các người làng Phù Ủng khá đa dạng và phong phú và khó khăn. Ở chỗ này ngoài tín ngưỡng thờ gia tiên (đạo ông bà), cư dân còn thờ Phật, thờ Thần, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng Làng tại đền, chùa, điện. Tín ngưỡng thờ gia tiên được biểu thị trong mỗi hộ dân cư đều phải có bàn thờ tổ tiên tổ tiên được đặt ở Vị trí long trọng nhất, thật sạch sẽ nhất, thường ở gian ở trung tâm.

Ngoài ra, tín ngưỡng thờ gia tiên còn được biểu thị chi tiết trong việc thờ hộ dân cư Phạm Ngũ Lão trong khu di tích lịch sử đền Phù Ủng. Tại gian hậu cung đền thờ công chúa Tĩnh Huệ (con gái Phạm Ngũ Lão) đặt khám thờ và tượng Trần triều Hưng Đạo Vương (bố vk Phạm Ngũ Lão). Hai bên tả hữu là khám thờ và tượng quận chúa Anh Nguyên (vk của Phạm Ngũ Lão) cùng công chúa Thiên Thành (hoàng hậu vua Trần Nhân Tông).

Trong làng có chùa Cảm Ân (hay chùa Bảo Sơn) là Vị trí thờ Phật. Bên hữu chùa Cảm Ân là phủ điện thờ Mẫu. Tọa lạc ở ở vị trí chính giữa của làng là ngôi đền thờ Điện suý thượng Tướng quân Phạm Ngũ Lão, được xem là vị Thành Hoàng làng, Đức Thánh Phạm của toàn cầu.

Điều nổi biệt ở đấy là phong tục tập quán của các người làng Phù Ủng vừa mang đậm nét văn hoá của các làng Việt cổ ở đồng bằng ven biển Bắc Bộ nhưng cũng luôn tồn tại các nét riêng tạo ra các giá thành văn hoá độc lạ của làng Phù Ủng.

Tục trọng lão: Gần giống bao làng quê thuần nông khác ở đồng bằng ven biển Bắc Bộ, kính trọng người già ở làng Phù Ủng đã biến thành nếp sống đạo đức, tinh thần, thành văn hoá ứng xử mang ý nghĩa mang tính nhân văn tinh xảo, thành truyền thống cổ truyền đáng tự hào của dân làng.

Ở chỗ này, người già được tôn trọng 1 mặt vì thuần phong mỹ tục “Triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ”. Mặt còn lại, những người dân già trong làng đây là kho kinh nghiệm đa dạng và phong phú trong cuộc đời về cách thức ứng xử giữa cá thể với toàn cầu, về kỹ thuật canh tác… truyền dạy các bài học kinh nghiệm quý giá nếu như với các dòng đời con cái hiên giờ.

Văn bản cổ, thư tịch, sắc phong, ghi chép trên bia đá, chữ trên cổng nhà, cổng làng

Di sản Hán Nôm: các dự án công trình cổ của làng Phù Ủng đều phải có minh văn bằng chữ Hán, chữ Nôm. Đây đều là các trang sử chân thật, các lời chân thành và xúc động của các người xưa ca tụng di tích lịch sử và nhân danh ở đây.

Chuyên Mục: Review Hưng Yên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Làng nghề chạm bạc Huệ Lai – Cội nguồn của các bộ trang sức quý bạc