Review Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt NamThái Nguyên Chi Tiết A-Z 2022

Bao Tang Van Hoa Cac Dan Toc2 1

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam ở chỗ nào?

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam Thái Nguyên Phương pháp Thủ đô thủ đô hà nội khoảng 80km, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tọa lạc ở số 1 Đội Cấn, thành phố Thái Nguyên, được thành lập năm 1960 với tên thường gọi buổi đầu là Bảo tàng Việt Bắc. Năm 1990 thay tên thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam và biến thành một trong các 5 Bảo tàng đất nước Việt Nam. 

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam1


Giới thiệu về Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam Thái Nguyên

Được thành lập trên một công viên xanh rộng tới 40.000m² cạnh con sông Cầu thơ mộng, tại điểm giao cắt của không ít đường Đội Cấn, Hoàng Văn Thụ, Bắc Kạn và Phương pháp mạng tháng Tám, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam là một công trình xây dựng bản vẽ xây dựng mô hình, kinh điển mang nhiều tính thẩm mỹ và nghệ thuật, đã đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình xây dựng bản vẽ xây dựng đợt một năm 2006.


Được sự gây được sự chú ý của Đảng, Nhà nước, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam càng ngày càng nâng tầm phát triển. 50 năm qua Bảo tàng đã thực hiện hàng nghìn cuộc nghiên cứu sưu tầm, trên địa phận cả nước, đóng góp thêm phần nâng tổng số hiện vật trong kho cơ sở lên gần 30.000 dữ liệu hiện vật có trị giá. Đó đây là cơ sở quan trọng để Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam hoàn thành xong hệ thống trình diện ở nhà, phía bên ngoài, đáp ứng rất tốt công chúng tham quan nội địa và quốc tế.

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam2

Hiện nay, hệ thống trình diện của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam được thành lập trên cơ sở các nhóm ngôn ngữ phối kết hợp với văn hoá vùng, trình làng truyền thống văn hoá 54 tộc người gắn kèm với cảnh quan môi sinh từng vùng cư trú. Bao bao gồm 1 gian trang trọng tại sảnh A nhà Bảo tàng và hệ thống 5 cửa hàng.


Gian trang trọng của Bảo tàng là địa điểm đón quý khách. Tại chỗ này trình làng các nét khái quát về văn hoá Việt Nam. Ở tiền sảnh lớn của Bảo tàng, tất cả chúng ta được ngắm nhìn và thưởng thức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu cuả dân tộc Việt Nam. Người ôm ba em bé, đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam. Tượng phật biểu lộ tình yêu thương vô bờ bến của Bác với các cháu thiếu nhi ba miền, cùng theo đó biểu lộ chủ trương thống nhất, đa chủng loại và đoàn kết của dân tộc Việt Nam.


Lịch Sử Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam Thái Nguyên

Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam được thành lập năm 1960. Thời kỳ đầu có tên Bảo tàng Việt Bắc, triển khai công dụng, trách nhiệm nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống cổ truyền lịch sử văn hoá, lịch sử đấu tranh phương thức mạng của nhân dân các dân tộc Việt Bắc.Năm 1976, Khu tự trị Việt Bắc giải thể, Bảo tàng Việt Bắc chuyển nhượng bàn giao về Bộ Văn hoá – Thông tin chủ tịch. Từ đây, Bảo tàng chuyển hướng nội dung vận động từ Bảo tàng tổng hợp sang Bảo tàng chuyên ngành về Văn hoá dân tộc. Ngày 31/3/1990 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa đã phê duyệt thay tên thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam và biến thành một trong các 7 Bảo tàng đất nước Việt Nam.

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam3


Tham quan Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam Thái Nguyên

Sau tượng Bác Hồ là bức phù điêu lớn được tạc được làm bằng gỗ mô phỏng các lễ hội tiêu biểu truyền thống cổ truyền các tộc người từ Bắc vào Nam: Múa khèn trong phiên chợ vùng cao, múa sư tử trong hội xuân vùng thung lũng, lễ hội Ka Tê của đồng bào Chăm, lễ hội đâm trâu của đồng bào Tây Nguyên và hội đua ghe ngo của đồng bào Nam Bộ.

Xem Thêm:  Review Tham Quan Đền Đuổm Thái Nguyên, ở Đâu, Có Gì, Lễ Hội, Chi Tiết từ A-Z 2022


Phòng số 1: Trưng bày và trình làng về văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (Kinh, Mường, Thổ, Chứt). Đồng bào sống chủ đạo bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá. Trong cuộc sống tâm linh có tục thờ cùng tổ tiên ông bà và các nghề thủ công truyền thống cổ truyền nâng tầm phát triển ở chuyên môn cao.Việt Mường là hai dân tộc có sự giống hệt về văn hóa truyền thống cổ truyền,cùng theo đó có không ít điểm khác nhau thích thú cho du khách điều tra.

Phòng số 2: Trưng bày và trình làng các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự, Sán Chay, Bố Y). Đồng bào sống chủ đạo trong nhà sàn, trồng lúa trên các thung lũng, ven sông suối, với hệ thống dẫn nước bằng mương, phai, lái, lín, cọn nước. Các nghề thủ công rèn, dệt vải khá nâng tầm phát triển với các dòng sản phẩm đẹp và sắc sảo. Nổi bật họ có cuộc sống tinh thần đa dạng và phong phú với nhiều điệu xoè và bài hát then độc lạ.

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam4

Phòng số 3: Trưng bày và trình làng văn hoá các tộc người thuộc 3 nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Ka Đai (La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo) và Tạng Miến (Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La). Đồng bào giỏi canh tác trên nương rẫy và ruộng bậc thang. Chợ phiên là địa điểm biểu lộ rõ truyền thống văn hoá vùng cao, văn hoá ẩm thực ăn uống, văn hoá mặc, thẩm mỹ và nghệ thuật thêu thùa, in hoa, màn biểu diễn âm nhạc, múa khèn…

Phòng số 4: Trưng bày trình làng văn hoá 21 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me ( Bru – Vân Kiều,Ba Na, Brâu, Chơ Ro, Co,Cơ Tu, Gié Triêng, Cơ Ho, H’rê, Kháng, Khơ Me, Xinh Mun, Mnông, Khơ Mú, Mảng,Ơ Đu, Mạ, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng). Đồng bào cư trú rải rác ở địa chỉ Tây Bắc, Miền -Tây Nguyên và Nam Bộ.

Xem Thêm:  Review Tham Quan Đình Làng Phương Độ Thái Nguyên, Ở Đâu, Kiến Trúc, Lễ Hội 2022

Cuộc sống kinh tế chủ đạo canh tác nương rẫy, các nương rẫy có chiều cao kha khá lớn, đồng canh tác theo phương thức chọc lỗ tra hạt. Kiến trúc nhà rông Tây Nguyên, chùa của dân tộc Khơ Me; nghề thủ công đan lát và lễ hội văn hoá thế giới là các nét văn hoá độc lạ của người dân Môn – Khơ Me.


Phòng số 5: Trưng bày và trình làng văn hoá các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Hòn đảo (Chăm, Raglai,Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru) và ngôn ngữ Hán (Hoa,Sán Dìu, Ngái). Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Hòn đảo cư trú triệu tập trên các cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên và dải đất ven bờ biển Miền Trung; Văn hoá Nam Hòn đảo mang đậm nét mẫu hệ. Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán cư trú trên cả ba vùng Bắc, Trung, Nam; Văn hoá Hán mang đậm nét phụ hệ.

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam5

Với hơn 4.500 dữ liệu hiện vật gốc, phim hình ảnh, 735 dữ liệu khoa học hỗ trợ, hệ thống trình diện của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam được thành lập theo phương thức tiến tiến, hiện đại. Các các loại thiết bị tin học điện tử và phần mềm âm lượng đã tái hiện được cảnh quan cư trú và cuộc sống văn hoá 54 tộc người, quyến rũ công chúng tham quan.Mỗi cửa hàng với hệ thống dữ liệu và hiện vật đa dạng và phong phú, đa đạng đã tái hiện một phương thức chân thật cảnh quan cư trú và cuộc sống văn hoá 54 dân tộc bằng hữu,

Từ cực bắc Hà Giang tới vùng đất mũi Cà Mau với các tấm hình thân mật như: các phiên chợ vùng cao, cảnh săn bắt voi rừng, tấm hình chọc lỗ bỏ hạt của không ít dân cư tộc hướng bắc, lễ hội cồng chiêng của không ít người Ê đê, Ba na ở Tây nguyên; sông nước của đồng bào Nam bộ; các nghề thủ công truyền thống cổ truyền, các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống cổ truyền trong trang phục, âm nhạc, ẩm thực ăn uống, lễ hội trong chế tạo lao động…

Ngoài phần trình diện thắt chặt và cố định, mỗi năm kho lưu trữ bảo tàng thực hiện hàng trăm cuộc triển lãm lưu động trên địa phận cả nước, bao gồm vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải hòn đảo, thỏa mãn nhu cầu yêu cầu tận hưởng văn hoá của nhân dân.


Song song với các hoạt động sinh hoạt Bảo tàng, cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị chức năng thường xuyên nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp viện về lĩnh vực văn hoá dân tộc, nhằm mục đích đáp ứng rất tốt công tác làm việc và cải tiến năng lực trình độ chuyên môn nhiệm vụ. Ở kề bên đó, các hoạt động sinh hoạt đào tạo và huấn luyện chuyên nghành, công tác làm việc toạ đàm, trao đổi, học hành kinh nghiệm cũng được cán bộ kho lưu trữ bảo tàng gây được sự chú ý, tham gia, đóng góp thêm phần trình làng, quảng bá các trị giá văn hoá tộc người càng ngày càng sâu rộng.

Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam6


Hiện nay, hệ thống trình diện phía bên ngoài Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam đã vào tiến độ hoàn thành xong. Không gian 6 vùng văn hoá: Núi cao phía Bắc, Thung lũng, Trung du – Bắc Bộ, Miền Trung – Ven biển, Trường Sơn – Tây Nguyên, và Đồng Bằng Nam Bộ đã định hình căn bản.

Xem Thêm:  Review Tham Quan Chùa Phù Liễn Thái Nguyên, Ở Đâu, Đường Đi, Chi Tiết A-Z 2022

Mỗi vùng văn hoá đều phải sở hữu khoảng trống tổ chức lễ hội, có kết cấu cảnh quan mang ý nghĩa đặc thù vùng miền và một khu nhà ở rõ ràng, mang ý nghĩa nguyên gốc làm điểm nổi bật trình làng các trị giá văn hoá Việt Nam đến du khách.Tại chỗ này, du khách cũng đơn giản tận mắt nhìn cảm nhận thấy nhiều các loại thiết bị vốn rất thân thuộc từ xưa của dân tộc như cái cối xay lúa đan bằng nan tre, cái cày bằng cây thô sơ, các mái nhà lợp tranh, vách đất…

Có khả năng nói, kho lưu trữ bảo tàng văn hóa truyền thống cổ truyền các dân tộc Việt Nam là mái nhà chung gìn giữ các nét văn hóa truyền thống cổ truyền tiêu biểu, rực rỡ và quyến rũ du khách gần xa.Chính vấn đề đó làm dân tộc Việt Nam thêm đẹp và rực rỡ tỏa nắng.Mỗi dân tộc là một cành hoa khoe sắc trên dải đất hình chữ S, là niềm tự hào của mỗi cá nhân con Việt Nam.Và vùng đất Thái Nguyên đẹp đẹp ẩn chứa các tiềm năng lớn lớn để nâng tầm phát triển du lịch.


Clip review Bảo Tàng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam Thái Nguyên

Chuyên Mục: Review Thái Nguyên

Nguồn Blog Review Du Lịch: https://bietthungoctrai.vn/ Khám phá kho lưu trữ bảo tàng văn hóa truyền thống cổ truyền các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *